tụng kinh ngày giỗ

Bộ Kinh này được thường tụng ngày giỗ hoặc lễ báo hiếu theo ngày Phật giáo. Người tụng phải thề nguyện từ nay về sau ăn ở cho phải đạo đối với cha mẹ và các bậc tôn trưởng. Người thân trong gia đình nghe kinh là phải giữ gìn theo thứ bậc như trên ra trên, dưới ra dưới, một nhà hiếu thuận. Kinh Lương Hoàng sám Với những gia đình có điều kiện tốt, gia chủ còn làm một mâm cơm chay tại mộ rồi sau đó mờ cả tăng ni tới cúng để tụng kinh niệm Phật cho người đã khuất sau đó mới tiến hành đốt vàng mã. Ngày giỗ thường (ngày giỗ từ 3 năm trở đi) Hằng năm vào mùng 9 tháng 3 là ngày đám giỗ của cha DS. Năm nay đám giỗ được tổ chức tại nhà người em trai. Trước đám giỗ mẹ DS thường tụng kinh Địa Tạng, xong mẹ lo chuẩn bị món ăn chay. Ngày này thì tha hồ mà trổ tài làm món chay. DS làm thợ phụ, còn bếp chánh thì có mẹ, chị bà con, chị dâu và em dâu. Các ngày trong tuần Giáng Sinh. Thứ Tư lễ tro đến Thứ Bảy sau lễ tro. Kinh Tiền Tụng các Thánh Trinh Nữ và Tu Sĩ Lễ An Táng và Lễ Giỗ. Các thánh lễ theo truyền thống dân tộc (các ngày Tết) Kinh phạm võng, quyển hạ chép: "Khi cha mẹ, anh em, hòa thượng, a xà lê qua đời, trong vòng 21 ngày đến 49 ngày nên đọc tụng Kinh, Luật đại thừa". Thích Thị Yếu Lãm chép: "Ngày 15 tháng 2 Âm lịch là ngày Phật Niết Bàn, tăng tục ở khắp nơi có lập hội để cúng dường Các ngày lễ trong năm. Giỗ H.Thượng Tâm Tịch; HÀNH TRÌ KINH PHÁP HOA Đức Phật bảo Thường Tinh Tấn Bồ tát "Nếu có người nào thọ trì kinh Pháp Hoa, đọc tụng, giải nói, biên chép kinh, sẽ 17/11/2020. Vay Tiền Cấp Tốc Online Cmnd. Bạn đang xem bài viết Ngày Mùng 1 Tụng Kinh Gì Và Tụng Kinh Thế Nào Cho Đúng? được cập nhật mới nhất trên website Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Tụng kinh mùng 1 đầu tháng tại nhà là cách để cầu mong những điều tốt đẹp, may mắn đến với gia đình. Vậy ngày mùng 1 tụng kinh gì? Cứ đến ngày rằm và mùng 1 đầu tháng, người Việt có phong tục đi lễ chùa để nghe kinh tụng và cầu an đến với người thân trong gia đình Cứ đến ngày rằm và mùng 1 đầu tháng, người Việt có phong tục sắm lễ cúng tại nhà để cầu sức khỏe, bình an, vạn sự như ý. Đồng thời, mọi người còn đi lễ chùa để nghe kinh tụng và cầu an đến với người thân trong gia đình. Vậy ngày mùng 1 tụng kinh gì cho đúng với phong tục. Tụng kinh là đọc một cách thành kính những lời dạy của đức Phật. Đây là cách để thấm nhuần những tư tưởng tốt đẹp, hướng thiện của Phật giáo và thực hành trong cuộc sống hàng ngày. Song song đó, đây là cách giúp chúng ta tịnh tâm, tạo phúc lành rất tốt. Tụng kinh mùng 1 đầu tháng là cách để cầu mong những điều tốt đẹp, may mắn đến với gia đình Việc tụng kinh được thực hiện ở chùa với không khí trang nghiêm và có các sư thầy chỉ bảo vẫn là tốt hơn cả. Tuy nhiên, nếu không có điều kiện thì chúng ta có thể tụng kinh ở nhà cũng rất tốt. Tu tại gia sẽ giúp chúng ta có một đời sống nội tâm an tịnh và sâu sắc. Các Phật tử tự tu tập hàng ngày ở gia đình thường nương vào kinh Phật tụng để tu hành. Tu tại gia sẽ bao gồm các việc như đọc kinh Công phu khuya vào buổi sáng, buổi tối tụng đọc Nghi thức Tịnh độ, tụng kinh Nhật tụng, thực hành ăn chay, niệm Phật và duy trì đều đặn các thời khóa. Ngày mùng 1 tụng kinh gì? Theo giáo lý đạo Phật, nghi thức tụng kinh nhằm để cầu an và cầu siêu. Có thể hiểu đơn giản cầu an là cầu cho một người nào đó được khỏe mạnh, an lạc và hạnh phúc. Còn “cầu siêu” là nguyện vọng hay mong muốn người chết được siêu độ, siêu thoát hay được sanh về thế giới chư Phật. Trong ngày mùng 1 và 15 âm lịch hàng tháng, nên tụng đọc kinh Phổ môn Nhìn chung các bộ kinh đều có tác dụng phá trừ mê mờ, khai mở tâm trí. Do đó, có thể chọn tụng bộ kinh nào cũng được chỉ cần chúng ta chí thành đọc tụng. Tuy nhiên, chúng ta nên lựa đọc những bộ kinh nào phù hợp với căn cơ và sở nguyện của mình. Những kinh thường được trì tụng ở nước ta từ xuất gia cho đến tại gia có thể kể đến như Hồng Danh, Di Đà, Vu Lan, Phổ Môn, Dược Sư, Địa Tạng, Lăng Nghiêm, Kim Cang, Pháp hoa… Với mỗi hoàn cảnh, mỗi trường hợp cần chọn một bộ kinh cho thích hợp để tụng như cầu an thì tụng kinh Phổ Môn, Dược Sư,cầu siêu thì tụng kinh Di Đà, Vu Lan… cầu sám hối thì tụng kinh Lương Hoàng Sám, Thủy Sám… Tụng kinh mùng 1 Tết có ý nghĩa là như một nghi thức đề cầu an cho năm Tụng kinh ngày mùng 1 hàng tháng và tụng kinh mùng 1 hôm rằm là việc cần làm nhằm để cầu mong mọi chuyện suôn sẻ, thuận buồm xuôi gió. Trong ngày mùng 1 và 15 âm lịch hàng tháng, nên tụng đọc kinh Phổ môn. Trong ngày 14 và 30 âm lịch hàng tháng cần thực hiện lễ sám hối theo Nghi thức Sám hối . Như vậy, kinh mùng 1 Tết là kinh cầu an và có ý nghĩa là như một nghi thức đề cầu an cho năm. Trước khi tụng kinh mùng 1, phải tẩy trần sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, tư thế ngồi đứng đoan chính, tụng vừa đủ nghe Trước khi tụng kinh mùng 1, phải tẩy trần sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, tư thế ngồi đứng đoan chính, tụng vừa đủ nghe. Có 2 thời gian cố định chọn để tụng kinh đó là buổi khuya và buổi tối. Thời khuya, thường tụng chú Lăng Nghiêm và Đại bi thập chú. Còn buổi tối là tụng Kinh Di Đà. Trong mỗi quyển kinh đều có ghi rõ phần nghi thức tụng kinh ở phần đầu trước. Phật tử có thể tiến hành theo đó. Những đồ dùng gia đình như cốc, ly, chén, gương, bát được làm bằng thủy tinh nên thường rất dễ vỡ và dễ khiến gia chủ lo lắng. Vậy, Mùng 1 Tết làm vỡ bát hay gãy đũa là điềm gì? Cách hóa giải thế nào? Ngày giỗ Ý nghĩa tục lệ cổ xưa Ngày giỗ còn gọi là húy nhật hay kỵ nhật, là ngày mất của một người tính theo âm lịch, là dịp để con cháu và người thân hàng năm tổ chức cúng cơm tưởng nhớ đến người đã khuất, đồng thời cùng nhau gặp mặt nhận họ nhận hàng và bàn bạc những công việc chung của gia đình, dòng họ. Cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, được coi là việc báo hiếu, là ngày con cháu tưởng nhớ đến công lao sinh thành, xây nền đắp móng của các bậc tổ tiên, và để cầu xin vong linh các bậc tiền bối phù hộ độ trì cho con cháu, cho gia đình, dòng họ. 3 ngày giỗ không thể quên dành cho các gia đình có người thân mới mất Trong tục lệ cúng giỗ, căn cứ thời gian qua đời của người quá cố người ta lưu ý đến 3 ngày giỗ với những nghi thức khác nhau, đó là Giỗ Đầu, Giỗ Hết và Giỗ Thường. Ngày giỗ đầu Giỗ Đầu còn gọi là lễ Tiểu Tường, là ngày giỗ đầu tiên, tổ chức sau ngày người mất đúng một năm. Đây là thời gian còn nằm trong kỳ tang chế, nên ngày giỗ vẫn còn mang không khí buồn thảm, bi ai. Trong ngày Giỗ Đầu, người ta thường tổ chức rất trang nghiêm. Con cháu vẫn mặc đồ tang phục ngày nay đa số chỉ đeo băng tang trên ngực, một số gia đình lúc tế lễ và khấn gia tiên, thân nhân của người quá cố vẫn khóc than, tạo không khí nhớ thương buồn thảm. Khách đến ăn giỗ luôn ăn mặc chỉnh tề, giữ thái độ trang nghiêm, không cười đùa hoặc có những cử chỉ thiếu sự nghiêm túc. Ngày giỗ hết Giỗ Hết còn gọi là lễ Đại Tường, là ngày giỗ sau ngày người mất hai năm. Theo tục lệ thì thời gian này cũng vẫn nằm trong kỳ tang chế nên người ta vẫn tổ chức lễ giỗ với nghi thức trang nghiêm. Ngày giỗ hết được cho là ngày giỗ quan trọng nhất trong tất cả những ngày giỗ đối với người qua đời, bởi nó đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời của người còn sống cũng như đối với vong linh của người đã khuất. Chính vì vậy Giỗ hết thường được tổ chức long trọng, con cháu, người thân thường có mặt đông đủ, khách mời dự cũng được mở rộng. Sau lễ Giỗ Hết ba tháng tức sau 27 tháng để tang người mất, người nhà sẽ chọn một ngày tốt để làm lễ Đoạn tang hết tang. Lễ Đoạn tang còn gọi là lễ Đàm tế hay lễ Trừ phục bỏ hết mọi đồ tang phục. Trong lễ này người ta làm ba việc chính sau đây – Sửa sang, đắp điếm cho mộ phần to đẹp thêm. – Đốt hủy các thứ thuộc phần tang lễ như khăn áo, băng tang, gậy chống, rèm sô, câu đối, trướng điếu…, bỏ bàn thờ vong để rước linh vị vào bàn thờ gia tiên. – Cáo yết tổ tiên để xin cho rước bát hương vào bàn thờ gia tiên. Sau khi làm lễ, người nhà đưa linh vị, di ảnh và bát hương thờ vong linh người quá cố vào thờ chung ở bàn thờ gia tiên theo thế thứ sắp đặt. Người ta cũng có thể lấy 3 chân nhang ở bát hương người quá cố cắm chung vào bát hương hội đồng ở bàn thờ gia tiên thay cho việc chuyển cả bát hương lên. Sau lễ này người đang sống sẽ trở lại cuộc sống thường nhật, có thể tham gia các tổ chức hội hè, đình đám, vui chơi; người vợ có chồng chết có thể đi bước nữa. Trong cuộc sống hiện nay, nhiều người đã có những nhận thức mới, đa số đều thực hiện sau Giỗ Hết là bỏ tang chế. Đặc biệt, đối với những người chết được hỏa táng thì người ta cho rằng họ đã sớm được “sạch sẽ” nên lễ Đoạn tang sẽ tiến hành ngay sau Giỗ Hết chứ không phải chờ thêm 3 tháng nữa, thậm chí có gia đình ngay sau lễ Tốt Khốc 100 ngày đã đưa di ảnh và chân hương lên thờ chung ở bàn thờ gia tiên. Ngày giỗ thường Giỗ Thường còn gọi là ngày Cát kỵ, là ngày giỗ sau ngày người mất từ ba năm trở đi. Cát kỵ nghĩa là Giỗ lành. Trong lễ giỗ này, con cháu mặc đồ thường phục, không còn mặc tang phục nữa. Đây là dịp để con cháu sum họp vừa để tưởng nhớ người đã khuất, vừa vui vẻ nhận biết người thân, giới thiệu họ hàng, bàn những chuyện về gia đình, dòng họ. Thường thì ngày Cát kỵ được tổ chức nhỏ gọn hơn, chủ yếu trong phạm vi gia đình chứ không mời khách khứa rộng rãi như hai kỳ Giỗ Đầu và Giỗ Hết. Ngày giỗ nên tụng kinh gì? Tụng như thế nào? Đến ngày giỗ ông bà cha mẹ mà không đủ duyên hay không có điều kiện mời chư Tăng Ni tụng kinh siêu độ thì con cháu trong nhà nên tụng kinh để cầu nguyện, báo hiếu. Thường thì vào đêm trước ngày giỗ, sau khi sắm lễ hương đèn hoa quả dâng cúng Phật và gia tiên, con cháu tập trung trước bàn thờ Phật tụng một biến kinh A Di Đà, theo như những chỉ dẫn của Nghi thức Cầu siêu trong kinh Nhật tụng. Bạn nên chọn kinh Nhật tụng tiếng Việt tránh âm Hán-Việt để vừa trì tụng và có thể hiểu nghĩa lý trong kinh. Sang ngày hôm sau, đúng ngày giỗ, vào buổi trưa hoặc buổi tối, bạn sắm một mâm cỗ chay dâng cúng hương linh. Lễ phẩm thì tùy tâm, cốt là “lễ bạc mà lòng thành”, nên hạn chế đến thấp nhất rượu bia, vàng mã. Nếu không thuộc văn cúng, bạn có thể thành tâm khấn nguyện, rót nước, lễ lạy trước bàn thờ gia tiên thỉnh cầu chư hương linh thọ dụng, chứng minh cho sự hiếu thảo của con cháu là được. Nếu các gia đình có thời gian thì trong ngày giỗ, tổ chức tụng kinh cầu siêu trước, kế đến cúng giỗ cùng trong một ngày lại càng hay. tổng hợp Tụng Kinh, Trì Chú, Niệm Phật Người Phật tử, nếu chỉ thờ, lạy và cúng Phật, thì cũng chưa có thể được gọi là thuần thành. Người Phật tử thuần thành còn phải tụng kinh, trì chú và niệm Phật. Vả lại nếu bỏ qua ba phần sau này, thì ba phần trước là thờ, lạy và cúng khó có thể viên dung cả Sự và Lý được. Vì phần Lý là phần cao siêu khó thực hành, mà nếu chúng ta không tụng kinh, niệm Phật để cho tâm hồn được sáng suốt, tỏ ngộ các lý lẽ sâu xa huyền diệu trong kinh điển, thì chúng ta không làm thế nào để đạt được 4 phép lạy thuộc về Lý là Phát trí thanh tịnh lễ, biến nhập pháp giới lễ, chánh quán lễ, thật tướng bình đẳng lễ và 5 món diệu hương để cúng Phật là Giới hương, ịnh hương, Huệ hương, Giải thoát hương, Giải thoát tri kiến hương. Và nếu không thực hành được 4 phép lạy về Lý và cúng dường được 5 món diệu hương, thì sự lạy và cúng chỉ là phần “Sự” là phần hình thức, và vì thế, kẻ tín đồ khó có thể tiến được trên đường đạo. Bởi vậy, cùng một lần với thờ, lạy và cúng Phật, chúng ta phải tụng kinh, trì chú và niệm Phật. ó là những điểm căn bản tối thiểu mà một Phật tử thuần thành không thể bỏ qua được. B. CHÁNH Ề I. ỊNH NGHĨA 1. Tụng kinh Tụng là đọc thành tiếng một cách có âm điệu và thành kính. Tụng kinh là đọc một cách thành kính những lời đức Phật đã dạy trong kinh điển, hợp với chân lý và căn cơ của chúng sinh. 2. Trì chú Trì là nắm giữ một cách chắc chắn. Chú là lời bí mật của chư Phật mà chỉ có chư Phật mới hiểu được, chứ các hàng Bồ tát cũng không hiểu thấu. Các bài chú đều có oai thần và công đức không thể nghĩ bàn, dứt trừ được nghiệp chướng, tiêu tai giải nạn và tăng trưởng phước huệ, nên cũng gọi là thần chú. 3. Niệm Phật Niệm là tưởng nhớ. Niệm Phật là tưởng nhớ danh hiệu Phật, hình dung Phật và đức hạnh của Phật, để luôn luôn cố gắng noi theo bước chân Ngài. II. LÝ DO PHẢI TỤNG KINH – TRÌ CHÚ – NIỆM PHẬT 1. Vì sao phải tụng kinh? Chúng ta sống trong cõi dục, cho nên lòng dục vọng của chúng ta không bao giờ ngừng nghỉ, cho đến trong giấc ngủ, cũng còn chiêm bao cãi lẫy, cười khóc, vui buồn như lúc thức. Trong cảnh mê mờ đầy dục vọng ấy, may thay, đức Phật vì đã thương xót chúng sinh mà truyền dạy những lời vàng ngọc, có thể phá tan màng mây u ám của vô minh và tội lỗi. Nhưng những lời lẽ cao siêu ấy, chúng ta nghe qua một lần , hai lần cũng không thể hiểu thấu và nhớ hết được. Cho nên chúng ta cần phải đọc đi đọc lại mãi, để cho lý nghĩa thâm huyền được tỏa ra, và ghi khắc trong thâm tâm chúng ta, không bao giờ quên được. ó là lý do khiến chúng ta phải tụng kinh. 2. Vì sao phải trì chú? Chú có công năng phi thường, nếu người thành tâm trì chú, thì được nhiều hiệu lực không thể tưởng tượng. Chẳng hạn thần chú “Bạt nhứt thế nghiệp chướng căn bổn đắc sinh Tịnh độ đà-la-ni” có hiệu lực tiêu trừ được hết gốc rễ nghiệp chướng, làm cho người được vãng sinh về Tịnh độ. Thần chú “Tiêu tai kiết tường” có hiệu lực làm cho tiêu trừ các hoạn nạn, tai chướng, được gặp những điều lành. Thần chú “Lăng Nghiêm” thì phá trừ được những ma chướng và nghiệp báo nặng nề Thần chú “Chuẩn ề” trừ tà, diệt quỷ. Thần chú “Thất Phật diệt tội” có công năng tiêu trừ tội chướng của chúng ta từ nhiều đời nhiều kiếp Vì thế nên chúng ta phải trì chú. 3. Vì sao phải niệm Phật? Tâm chúng ta bị vô minh làm mờ đục, chẳng khác gì nước bị bùn nhơ làm ngầu đục. Muốn cho nước đục kia hóa ra trong, không có phương pháp nào hay hơn là gia một chút phèn vào, thì các chất dơ bẩn ngầu đục kia dần dần lắng xuống, bấy giờ nước đục trở nên trong sạch. Phương pháp niệm Phật cũng vậy, có công năng trừ phá các vọng niệm đen tối ở nơi tâm của chúng ta, làm cho tâm mê muội, mờ ám trở nên sáng suốt, chẳng khác gì chất phèn làm cho nước trở nên trong vậy. Vì sao niệm Phật lại làm cho tâm mê muội trở nên trong sáng? Vì lý do rất dễ hiểu sau đây Tâm chúng ta rất điên đảo, không bao giờ dừng nghỉ. Kinh thường nói “Tâm viên, ý mã”, nghĩa là “tâm” lăng xăng như con vượn nhảy từ cành nầy qua cành khác, và “ý” như con ngựa chạy lung tung luôn ngày suốt buổi. Làm sao cho tâm ý chúng ta đừng nghĩ xằng bậy? Chỉ có một cách là bắt nó nghĩ những điều tốt lành, hay đẹp. Niệm Phật chính là nhớ nghĩ đến những vị hoàn toàn tốt đẹp, những hành động trong sáng, những đức tánh thuần lương. Càng niệm Phật nhiều chừng nào, thì ít niệm ma chừng ấy. Ma ở đây là tất cả những gì xấu xa đen tối, làm hại mình hại người. Vì thế chúng ta nên luôn luôn niệm Phật. III. PHẢI THƯỜNG TỤNG NHỮNG BỘ KINH NÀO, TRÌ CHÚ GÌ VÀ NIỆM DANH HIỆU PHẬT NÀO? 1. Các kinh thường tụng. Phàm là kinh Phật thì bộ nào tụng cũng được cả, vì kinh nào cũng có công năng thù thắng là phá trừ mê mờ, khai mở tâm trí sáng suốt cho chúng sinh, nếu chúng ta chí thành đọc tụng. Nhưng vì căn cơ của chúng ta không đến, nên chúng ta phải lựa những bộ kinh nào thích hợp với căn cơ và sở nguyện của chúng ta mà đọc tụng. Thông thường, các Phật tử Việt Nam, từ xuất gia cho đến tại gia đều trì tụng những kinh như Di à, Hồng Danh, Vu Lan, Phổ Môn, Dược Sư, ịa Tạng, Kim Cang, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa Nhiều người có quan niệm, chọn bộ kinh cho thích hợp với mỗi hoàn cảnh, mỗi trường hợp để tụng, như lúc a Cầu siêu thì tụng kinh Di à, ịa Tạng, Vu Lan b Cầu an thì tụng kinh Phổ Môn, Dược Sư c Cầu tiêu tai và giải bịnh thì tụng kinh Kim Cang, Lăng Nghiêm d Cầu sám hối thì tụng Hồng Danh. Cái quan niệm lựa chọn như thế cũng có phần hay là làm cho tâm chuyên nhất sẽ được hiệu nghiệm hơn. Nhưng chúng ta không nên quên rằng về mặt giáo lý cũng như về mặt công đức, bất luận một bộ kinh nào, nếu chí tâm trì tụng, thì kết quả cũng đều mỹ mãn như nhau cả. 2. Các chú thường trì. Ở chùa, chư Tăng hằng ngày, trong thời khóa tụng khuya, trì chú Lăng Nghiêm, ại Bi, Thập chú hay Ngũ bộ chú Còn ở nhà, phần nhiều cư sĩ trì chú ại Bi và Thập chú, bởi hai lẽ một là thời giờ ít ỏi, vì còn phải lo sinh sống cho gia đình; hai là chú Lăng Nghiêm đã dài, lại thêm chữ âm vận, trắc trở khó đọc, khó thuộc. Nhưng nếu cư sĩ nào có thể học hết các thần chú, trì tụng được như chư Tăng thì càng tốt. 3. Các hiệu Phật thường niệm. ức Phật nào cũng đủ cả 10 hiệu, đồng một tâm toàn giác, từ bi vô lượng, phước trí vô biên, thương chúng sinh vô cùng vô tận, nên chỉ niệm danh hiệu một đức Phật nào cũng đều được cảm ứng đến tất cả chư Phật, công đức cũng đều vô lượng vô biên. Nhưng đứng về phương diện trình độ và hoàn cảnh mà luận, thì hiện nay, chúng ta là người ở thế giới Ta-bà, nhằm quốc độ của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni giáo hóa, lẽ cố nhiên chúng ta phải niệm danh hiệu của Ngài. Dụ như dân chúng ở trong nước nào, phải nhớ nghĩ đến ơn nhà cầm quyền chính trị sáng suốt ở trong nước đó. Nếu tín đồ nào tu theo pháp môn Tịnh độ, thì thường ngày phải niệm danh hiệu đức Phật A-Di-à. Pháp môn này được thành lập do lời dạy sau đây của đức Phật Thích-Ca “Ở cõi thế giới Ta-bà này, đến thời kỳ mạt pháp, cách Phật lâu xa, chỉ có pháp “Trì danh niệm Phật”, cầu vãng sinh về Tây phương cực lạc là quốc độ của đức Phật A Di à, thì dễ tu dễ chứng hơn hết”. Ngoài ra, cũng có người niệm danh hiệu đức Phật Di Lặc, để cầu sinh về cõi trời âu-Suất; hoặc niệm danh hiệu đức Phật Dược Sư, để cầu cho khỏi tật bịnh. Tóm lại, tín đồ phải niệm đủ Tam thế Phật a Niệm đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, là niệm đức Phật hiện tại, mà cũng là đức Phật giáo chủ của chúng ta. b Niệm đức Phật A Di à, là niệm đức Phật đã thành từ quá khứ xa xưa, mà cũng là đức Phật tiếp dẫn chúng ta về Cực lạc. c Niệm đức Phật Di Lặc, là niệm đức Phật vị lai. IV. LỢI ÍCH CỦA SỰ TỤNG KINH – TRÌ CHÚ – NIỆM PHẬT 1. Lợi ích của sự tụng kinh. Những lời giáo hóa trong ba tạng kinh điển của Phật, đều toàn là những lời hiền lành, sáng suốt do lòng từ bi và trí tuệ siêu phàm của Phật nói ra. Kinh Phật, vì thế, có phần siêu việt hơn tất cả những lời lẽ của thế gian. Nếu chúng ta chí tâm trì tụng, chắc chắn sẽ được nhiều lợi ích cho mình, cho gia đình và những người chung quanh a Cho mình Lúc tụng niệm, hành giả đem hết tâm trí chí thành đặt vào văn kinh để khỏi sơ suất, nên sáu căn Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều thâu nhiếp lại một chỗ. Chăm lo tụng kinh, nên ba nghiệp của thân, khẩu, ý không còn móng khởi lên mười điều ác nữa, mà chỉ ghi nhớ những lời hay, lẽ phải. b Cho gia đình Trước khi sắp sửa tụng kinh, những người trong nhà đều dứt các câu chuyện ngoài đời và khách hàng xóm đến ngồi lê đôi mách cũng tự giải tán. Trong gia đình nhờ thế được thanh tịnh, trang nghiêm, hòa thuận. c Cho người chung quanh Trong những lúc đêm thanh canh vắng, lời tụng kinh trầm bổng theo với tiếng mõ nhịp đều, tiếng chuông ngân nga, có thể đánh thức người đời ra khỏi giấc mê, đưa lọt vào tai kẻ lạc lối những ý nghĩa thâm huyền, những lời khuyên dạy bổ ích, chứa đựng trong kinh điển mà hành giả đang tụng. Như vậy rõ ràng tụng kinh chẳng những có lợi ích cho mình, cho gia đình, mà còn cho những người chung quanh nữa. ó là mới nói những điều ích lợi thông thường có thể thấy được, ngoài ra tụng kinh còn có những điều lợi ích, linh nghiệm lạ thường, không thể giải thích được, ai tụng sẽ tự chứng nghiệm mà thôi. 2. Lợi ích của sự trì chú. Các thần chú tuy không thể giải nghĩa ra được, nhưng người chí tâm thọ trì, sẽ được công hiệu thật là kỳ diệu, khó có thể nghĩ bàn, như người uống nước ấm, lạnh thì tự biết lấy. Có thể nói Một câu thần chú, thâu gồm hết một bộ kinh, vì vậy, hiệu lực của các thần chú rất phi thường. Khi gặp tai nạn, nếu thực tâm trì chú, thì mau được giải nguy. Như thuở xưa, Ngài A-Nan mắc nạn, ức Phật liền nói thần chú Lăng Nghiêm, sai ngài Văn-Thù Sư-Lợi đến cứu, thì Ngài A-Nan liền được thoát nguy. Ngày nay có nhiều trường hợp mà người thành tâm niệm chú thấy được hiệu nghiệm rõ ràng. Theo lời bác sĩ Thiện Thành nói lại, thì vào năm 1946, giữa lúc loạn ly, bác sĩ ở trong một vùng rừng sâu, núi hiểm tại Trung Việt. Một lần bác sĩ bị một chứng bịnh nan y, mặc dù lương dược ông, Tây sẵn có trong tay, cũng không làm sao trị được. Bác sĩ tưởng sẽ bỏ mình trong xóm người sơn cước, không ngờ lúc còn ở dưới mái nhà cha mẹ, thường đêm nghe thân phụ trì chú “Công ức Bảo Sơn”, bác sĩ liền đem thần chú ấy ra áp dụng. Trong lúc ấy, các người nuôi bịnh cũng xúm lại hộ niệm cho bác sĩ suốt đêm. Sáng hôm sau, quả thật bác sĩ lành mạnh trở lại một cách dễ dàng, làm cho tất cả các bạn đồng nghiệp đều ngạc nhiên. 3. Lợi ích của sự niệm Phật. Niệm Phật công đức lại còn to lớn hơn nữa, vì một câu niệm Phật có thể gồm thâu cả 3 tạng kinh điển, hết thảy thần chú, cùng là các pháp viên đốn, như tham thiền, quán tưởng ức Phật Thích-Ca Mâu-Ni có dạy rằng “Sau khi Phật nhập diệt, về thời kỳ mạt pháp, đến kiếp hoại, các kinh sẽ bị tiêu diệt hết, chỉ còn kinh Di à lưu truyền lại độ trăm năm rồi cũng diệt luôn. Lúc bấy giờ chỉ còn một câu niệm Phật gồm 6 chữ “Nam mô A Di à Phật”, mà đủ năng lực đưa chúng sinh về cõi Cực lạc”. Lời Phật nói không sai, bằng chứng là có nhiều nhân vật chuyên trì một câu niệm Phật, mà biết được ngày giờ và thấy được điềm lành trước khi vãng sinh. Như ngài Tổ Huệ Viễn, trong mười năm niệm Phật, ba lần thấy đức A-Di à rờ đầu; trong hội Liên xã, có 123 người chuyên tu phép “Trì danh niệm Phật”, đều lần lượt được Phật rước về cõi Tịnh độ. Gần đây ở Nam phần Việt Nam, vào năm 1940, có 3 vị sĩ quan Pháp là đại úy Touffan, trung úy Retourna, thiếu úy Brillant đồng lái một chiếc thủy phi cơ bay từ đảo Côn Lôn về Sài Gòn. Giữa đường, chiếc phi cơ hư, rơi xuống biển. Thiếu úy Brillant người Pháp lai Việt niệm Phật cầu cứu. Chiếc thủy phi cơ lững đững trên mặt biển suốt ba giờ đồng hồ, mới gặp một chiếc tàu đánh cá của người Nhật đến cứu. Khi ba vị sĩ quan vừa bước sang tàu, thì chiếc thủy phi cơ chìm ngay xuống biển. Ai nấy đều lấy làm lạ, hỏi nhau Tại sao khi nãy có 3 người ngồi nặng, phi cơ lại nổi, mà bây giờ không có người nó lại chìm ngấm? Chỉ có thiếu úy Brillant mới giải thích được sự lạ lùng ấy. Ông kể lại cho mọi người nghe sự linh ứng của pháp niệm Phật mà ông thường áp dụng, và lần nầy là lần thứ hai ông được thoát nạn nhờ phép niệm Phật ấy. ại úy Touffan và trung úy Retourna hết lòng tin tưởng, nên khi về đến Sài Gòn, hai vị sĩ quan ấy chung nhau một số tiền, cất một cái am đẹp đẽ ở Cát Lái, làng Thạnh Mỹ Lợi, tỉnh Gia ịnh để thờ Phật gọi là tỏ lòng tri ân. ây chỉ là một câu chuyện trong muôn ngàn câu chuyện về sự lợi ích của phép niệm Phật. C. KẾT LUẬN Khuyên Phật tử tụng kinh, niệm Phật và trì chú cả Sự lẫn Lý cho được viên dung. Tụng kinh, trì chú, niệm Phật là 3 phương pháp tu hành gồm đủ cả Sự và Lý. Dù tại gia hay xuất gia, dù Tiểu thừa hay ại thừa, tiêu cực hay tích cực, không ai có thể rời ba phương pháp nầy được. Bởi thế, Phật tử cần phải học tụng kinh, niệm Phật và trì chú cho Sự, Lý đi đôi, lời nói và việc làm phù hợp, mới có được kết quả tốt đẹp. Ba pháp môn tụng kinh, trì chú và niệm Phật, tuy không đồng mà kết quả đều thù thắng. Phật tử có thể tùy theo trình độ, hoàn cảnh của mình mà tu một, hai hay cả ba pháp ấy. Thí dụ như người biết chữ và mạnh khoẻ, công ăn việc làm hằng ngày không bận rộn lắm, thì nên tụng kinh, trì chú, niệm Phật đủ cả ba pháp môn. Còn người tuổi già, sức yếu, mắt lờ, răng rụng, miệng lưỡi phều phào, thân thể mỏi mệt, nếu tụng kinh, trì chú không nổi, thì phải chuyên tâm niệm Phật, đi đứng nằm ngồi, lúc nào cũng phải niệm Phật. Nhưng các Phật tử nên nhớ, khi miệng tụng kinh, trì chú, niệm Phật, tay gõ mõ, đánh chuông, lần chuỗi, thì tâm trí phải gội rửa hết bao ý nghĩ bất chính, những ham muốn đê hèn, và đặt vào đấy hình ảnh của đấng từ bi. Rồi phải noi gương Ngài, mở lòng thương rộng lớn, nghĩ đến nỗi thống khổ của muôn loài và phát nguyện đem sức mình ra, ban vui cứu khổ cho tất cả. ến khi thôi tụng niệm, trở lại tiếp xúc việc đời, thì phải làm thế nào cho những hành động của mình cũng được từ bi như tư tưởng và lời nói của mình vậy. Người tụng kinh trì chú và niệm Phật, làm đúng như thế, thì chắc chắn sẽ được chứng quả thánh không sai. Cách Lập Đàn Và Tụng Kinh Dược Sư Đàn Dược Sư được thiết lập để kỳ an Gia đạo và Bổn mệnh. Cầu nguyện Phong điều Vũ thuận, Quốc Thái Dân An. Tùy theo tính chất và bổn nguyện mà Đàn tràng được thiết lập lớn nhỏ, thời gian dài ngắn. Vào dịp đầu năm, các Chùa thường tổ chức Đàn này. Cung thỉnh Các vị Chư Tôn Trưởng lão Chứng minh và luân phiên trì tụng Kinh Dược Sư Bổn Nguyện để cầu nguyện chung cho tất cả Phật tử. Ngoài ra. Khi tư gia có tai nạn hoặc người lâm bịnh nặng, ngoài việc chữa trị bằng Đông, Tây y thì cũng có thể kiến lập Đàn này để cầu nguyện. Như vậy, ngoài ý nghĩa dùng Dược lực từ Đông, Tây y để chữa trị, Pháp lập đàn Dược Sư là phương pháp dùng Tín lực để chữa trị, cầu nguyện được sự gia trì của Chư Phật. Trong sự Tín lực này cũng có hai duyên _Nội duyên Nghĩa là tự mình cầu Phật và niệm Phật,tin tưởng nơi đức Phật hộ trì, mặt khác niệm Phật thì tự tâm trong lặng, không khởi lên dục vọng thất tình, bệnh tất mau lành. _Ngoại duyên Nghĩa là do những người trong gia đình tụng kinh, lễ bái giúp vào. Hoặc thỉnh chư Tăng, chư thiện hữu trợ duyên lễ Phật, tụng kinh để đem tâm tưởng tha lực phù trì, hiệp cùng tự lực, tất nhiên có được một năng động lực mạnh mẽ mà khiển bệnh tình chóng dứt. Muốn đạt được sự lý dùng sức tin tưởng trị liệu, người Phật tử cần phải biết rõ nghi thức tụng kinh Dược sư, tụng thường hay tụng hội. 1. NGHI THỨC TỤNG KINH DƯỢC SƯ Tụng thường Nghiã là đối trước bàn Phật mà đem kinh Dược sư ra tụng, nhất tâm cầu nguyện hồi hướng công đức để cho người bệnh chóng được bình phục. Việc tụng này có thể tổ chức ngay tại trong gia đình hay cầu thỉnh một vị Tăng tụng cho ở chùa cũng được, điều cốt nhất là người cầu tụng cũng như người tụng đều phải chí thành. Gia chủ tín thành nhưng thầy tụng có tính cách là sự tụng thuê, miễn sao xong việc thì thôi, thì không có công hiệu. Ngược lại người tụng kinh chí thành mà người gia chủ coi là một sự bất đắc dĩ phải chiều ý mà tổ chức tụng chứ không thật tâm muốn tụng, hoặc cố tổ chức cho có tiếng vang đối với bạn bè, hàng xóm là có tính cách cầu danh thì cũng không lợi lạc. Về cách trang biện lễ vật thì cứ tùy tâm biện lễ, cốt được thanh tịnh là hơn. Tụng hộiTức là tổ chức lễ đàn Dược sư có bảy vị ngồi tụng hoặc có bảy khu, mỗi khu có bảy vị gọi là đàn Dược sư thất khu. Việc tụng kinh Dược sư hội cần nên chú ý mấy điểm sau đây 1. THIẾT LẬP ÀN TRÀNG_àn Dược sư có thể thiết lập tại nhà cũng như tại chùa chia làm 7 khu có 7 hình tượng Phật, có tràng phan, bảo cái THẤT PHẬT TRỢ TUYÊN DƯƠNG _Nam mô Tỳ Bà Thi Phật _Nam mô Thi Khí Phật _Nam mô Tỳ Xá Phù Phật _Nam mô Câu Lưu Tôn Phật _Nam mô Câu Na Hàm mâu ni Phật _Nam mô Ca Diếp Phật _Nam mô Thích Ca Mâu ni Phật BÁT ẠI BỒ TÁT GIÁNG CÁT TƯỜNG _Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát _Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát _Nam mô ắc ại Thế Bồ Tát _Nam mô Vô Tận Ý Bồ Tát _Nam mô Bảo àn Hoa Bồ Tát _Nam mô Dước Vương Bồ Tát _Nam mô Dược Thượng Bồ Tát _Nam mô Di Lặc Bồ Tát THẬP NHỊ DƯỢC XOA ẠI TƯỚNG _Cung Tỳ La ại tướng _Phạt Triết La ại tướng _Mê Xí La ại tướng _An ể La ại tướng _Án Nể La ai tướng _San ề La ại tướng _Nhân ạt La ại tướng _Ba Di La ại tướng _Ma Hồ La ại tướng _Thân ạt La ại tướng _Chiêu ỗ La ại tướng _Tỳ Yết La ại tướng Bảy khu được phân định ra Trung Ương _ Thượng phương _ Hạ phương _ ông phương _ Nam phương _ Tây phương _ Bắc phương. Mỗi khu được đặt 1 cái bàn và 7 ghế ngồi, nếu là tụng 49 vị và mỗi bàn 1 ghế ngồi, nếu chỉ có 7 vị ngồi tụng. Về việc bày bàn nên xếp đặt theo 2 phương thức tùy theo vị trí chỗ thiết lập _ Xếp ngang _ bày bàn cùng hướng lên một hướng song song ngang nhau, hoặc giữa 3 bàn và 4 bàn lui xuống một chút. _ Xếp theo phương hướng _ Trung Ương 3 bàn, rồi 4 bàn 4 phía đâu vào. Nhìn thấy 5 bàn một hàng ngang , 3 bàn một hàng dọc . Trung Ương đàn nên được bày biện nguy nga hơn hết và đó là chỗ vị Sám chủ ngồi tụng, nếu được ngoảnh mặt về phương ông thì tốt hơn hết. 2. VẬT PHẨM TRANG TRÍ _ Về thức vật bày biện phải có đủ mỗi bàn a/ ầy đủ _Một tượng Phật _Một bát hương _Hai cây nến đăng _Hai bình hoa _Hai mâm quả Năm thứ quả, có năm mầu _Trà _Thực thực vật ăn được như oản khảo hay oản nếp hoặc xôi chè Về vật phẩm cúng dàng nên y theo lục cúng tức là ở món chay tịnh b/ Giản tiện _Một bát hương _Một cây nến _Một bình hoa 3. VIỆC THỈNH NGƯỜI TỤNG KINH _ Trong hội Dược sư ít nhất cũng nên có một vị ại ức Tăng chủ lễ, nếu được 7 vị Tăng hoắc Ni chia ra đứng chủ mỗi bàn thì càng quí hóa. Trường hợp không thỉnh được vị Tăng thì cũng có hàng cư sĩ có đức hạnh đáng tôn làm chủ lễ. Tất cả những vị trong đàn đều phải ăn mặc tề chỉnh có áo tràng và nếu có thể nên được chay tịnh ba ngày hay một ngày trước khi vào đàn. Những vị tham dự tụng kinh Dược sư hội nên giữ những điều cấm sau đây _Không nên ăn trầu trong khi tụng kinh _Không nên hút thuốc _Không nên chuyện trò, cười nói trong lúc tụng kinh cũng như trước khi tụng kinh _Không nên vừa tụng kinh vừa quạt phì phà, phì phạch hoặc vặn mình nghiêng bên nọ, ngã bên kia. ối với gia chủ phải giữ tuyệt đối những điều răng cấm sau đây _Không sát sanh. _Không mời thầy bùa chú nguyện. _Không cầu ma đảo quỉ, tin thầy yêu nghiệt. Phải thực tâm hồi hướng bằng cách làm các việc phúc đức _Ấn tống kinh sách _Làm việc bố thí _Tổ chức phóng sanh ối với người đau,cũng phải luôn luôn niệm câu “Nam mô Dược Sư Phật”. Hoặc nếu tâm linh còn minh mẫn có thể chuyên tụng bài chú sau đây “Nam mô Bạc già phạt đế bệ sái xã lũ rô, bệ lưu li, bát lạt bà, hắt ra xà giã, đát tha yết đa gia, a ra hắt đế. Tam diễu tam bột đà gia, đát điệt tha. Án, bệ sái thệ, bệ sái thệ, bệ sái xã, tam một yết đế tóa ha”. Càng nhiều càng có lợi lạc. Tuy nhiên, dù là tụng thường, dù là tụng hội, nên có ý niệm chân xác là phương pháp tụng kinh cốt ở ý thành, về lễ lạt càng giản dị càng tốt, trong hoàn cảnh nghèo chỉ cần một nén hương thơm, một chén nước trong cũng đủ. Phát tâm hộ trì Chánh Pháp cữu trụ thế gian lợi ích hữu tình và muốn tu học những lời vàng ngọc của ức Phật dạy để chứng đắc và hóa sinh về cõi Phật An Lạc ngay trong đời này, thỉnh mời chư thiện hữu đến KHÓA LỄ TRÌ TỤNG KINH DƯỢC SƯ Trầm Hương Đốt Trầm Hương Đốt, Xông Ngát Mười Phương Nguyện Nguyện Kính Đức Nghiêm Từ Vô Lượng Cầu Cầu Xin Chứng Tâm Thành Chúng Con Vầng Vầng Khói Kết Mây Lành Cúng Dường Đạo Nhiệm Mầu Đã Lan Truyền Nơi Cùng Nơi Nhờ Chân Lý Chúng Sanh Đều Thoát Luân Hồi Đồng Qui Kính, Quỳ Dưới Đài Sen Dâng Hoa Thơm Tinh Khiết Màu Thắm Tươi Cành Đài Quang Minh Sáng Huy Hoàng Trang Nghiêm Ơn Mười Phương Điều Ngự Hào Quang An Lành Nhìn Đạo Uyển Chuyển Soi Khắp Cùng Quần Sanh Phật Đạo Đồng Cùng Nhau Tu Tinh Tấn Mau Viên Thành Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Ngưỡng kính bạch Đức Thế Tôn, đệ tử chúng con …. Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát Thân Phật thanh-tịnh tợ lưu-ly. Trí Phật sáng ngời như trăng sáng. Phật ở thế gian thường cứu khổ, Tâm Phật không đâu không từ bi. Đại-từ Đại-bi thương chúng sinh, Đại-hỷ Đại-xả cứu muôn loài. Tướng tốt chói sáng tự trang nghiêm, Đệ-tử chúng con qui-y đảnh-lễ. Nhất tâm đảnh-lễ Nam-mô ……. BÀI TÁN HƯƠNG Mọi người cùng ngồi kết già cùng đọc Dương chi tịnh thủy Biến sái tam thiên Tánh không bát đức lợi nhơn thiên Pháp giới quảng tăng diên Diệt tội tiêu khiên Hỏa diệm hóa hồng liên Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát 3 lần CHƠN NGÔN TỊNH PHÁP GIỚI Án Lam 7 lần CHƠN NGÔN TỊNH KHẨU NGHIỆP Tu Rị Tu Rị, Ma Ha Tu Ri, Tu Tu Rị Ta Ba Ha 3 lần CHƠN NGÔN TỊNH TAM NGHIỆP Án Sa Phạ, Bà Phạ Thuật Đà Sa Phạ, Đạt Ma Sa Phạ Bà Phạ Thuật Độ Hám 3 lần CHƠN NGÔN PHỔ CÚNG DƯỜNG Án Nga Nga Nẵng, Tam Bà Phạ, Phiệt Nhựt Ra Hồng 3 lần CHƠN NGÔN AN THỔ ĐỊA Nam Mô Tam Mãn Đa, Một Đà Nẫm, Án Độ Rô Độ Rô, Địa Vĩ Ta Ba Ha 3 lần ĐẠI BI CHÚ NAM MÔ ĐẠI BI HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT 3 lần THIÊN THỦ THIÊN NHÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Đa. Nam Mô A Ri Da, Bà Lô Yết Đế, Thước Bát Ra Da, Bồ đề Tát Đỏa Bà Da, Ma Ha Tát Tỏa Bà Da, Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da. Án Tát Bàn Ra Phạt Duệ, Số Đát Na Đát Tỏa. Nam Mô Tất Kiết Lật Đỏa, Y Mông A Rị Da, Bà Lô Kiết Đế, Thất Phật Ra Lăng Đà Bà. 1 tiếng chuông. Nam Mô Na Ra Cẩn Trì Hê Rị, Ma Ha Bàn Đa Sa Mế, Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng, A Thệ Dựng, Tát Bà Tát Đa Na Ma Bà Già, Ma Phạt Đạt Đậu Đát Điệt Tha, Án A Bà Lô Hê, Lô Ca Đế, Ca Ra Đế, Di Hê Rị, Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa, Tát Bà Tát Bà, Ma Ra Ma Ra, Ma Hê Ma Hê, Rị Đà Dựng Câu Lô Câu Lô Kiết Mông, Độ Rô Độ Rô, Phạt Xà Da Đế, Ma Ha Phạt Xà Da Đế, Đà Ra Đà Ra, Địa Rị Ni, Thất Phật Ra Da, Dá Ra Dá Ra, Mạ Mạ Phạt Ma Ra, Mục Đế Lệ, Y Hê Di Hê, Thất Na Thất Na, A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi, Phạt Sa Phạt Sâm, Phạt Ra Xá Da, Hô Lô Hô Lô Ma Ra, Hô Lô Hô Lô Hê Rị, Ta Ra Ta Ra, Tất Rị Tất Ri, Tô Rô Tô Rô, Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ, Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ, Di Đế Rị Da, Na Ra Cẩn Trì Địa Rị Sắc Ni Na, Ba Dạ Ma Na Ta Bà Ha, Tất Đà Dạ Ta Bà Ha. Ma Ha Tất Đà Dạ Ta Bà Ha. Tất Đà Du Nghệ Thất Bàn Ra Dạ, Ta Bà Ha. Na Ra Cẩn Trì, Ta Bà Ha. Ma Ra Na Ra Ta Bà Ha. Tất Ra Tăng A Mục Khê Da Ta Bà Ha. Ta Bà Ma Ha, A Tất Đà Dạ, Ta Bà Ha. Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ, Ta Bà Ha. Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ, Ta Bà Ha. Na Ra Cẩn Trì Bàn Đà Ra Dạ, Ta Bà Ha. Ma Bà Lị Thắng Yết Ra Dạ, Ta Bà Ha. Nam Mô Hắt Ra Đát Na, Đa Ra Dạ Da. Nam Mô A Rị Da, Bà Lô Yết Đế, Thước Bàng Ra Dạ, Ta Bà Ha. Án Tất Điện Đô, Mạn Đa Ra, Bạt Đà Dạ, Ta Hà Ha 3 lần, 1 chuông PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ THẦN CHÚ Khể Thủ Quy-Y Tô Tất Đế Đầu Diện Đảnh Lễ Thất Câu Chi Ngã Kim Xưng Tán Đại Chuẩn Đề Duy Nguyện Từ Bi Thùy Gia Hộ Nam Mô Tát Đa Nẫm Tam Miệu Tam Bồ Đề, Câu Chi Nẫm, Đát Điệt Tha, Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề, Ta Bà Ha 3 hoặc 7 lần, 1 chuông Chuẩn Đề Công Đức Tụ Tịnh Tịch Tâm Thường Tụng Nhất Thiết Chư Đại Nạn Vô Năng Xâm Thị Nhơn Thiên Thượng Cập Nhơn Gian Thọ Phước Như Phật Đẳng Nam Mô Thất Câu Chi Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề Vương Bồ Tát Bộ Lâm Án Lam Án Xỉ Lâm Án Ma Ni Bát Ni Hồng Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Ba Ha 3 lần, 5 lần hoặc 7 lần VĂN PHÁT NGUYỆN Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo 3 lần Cúi Lạy Đấng Tam Giới Tôn Quy Mạng Cùng Mười Phương Phật Con Nay Phát Nguyện Rộng Thọ Trì Kinh Của Phật Trên Đền Bốn Ân Nặng Dưới Cứu Khổ Tam Đồ Nếu Có Kẻ Thấy Nghe Đều Phát Lòng Bồ Đề Hết Một Báo Thân Nầy Sanh Qua Cõi Cực Lạc Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 3 lần LỜI KỆ KHAI KINH Pháp Vi Diệu Rất Sâu Vô Lượng Trăm Nghìn Muôn Ức Kiếp Khó Gặp Con Nay Thấy Nghe Được Thọ Trì Nguyện Hiểu Nghĩa Chơn Thật Của Như-Lai Nam Mô Dược Sư Hội Thượng Phật Bồ Tát 3 lần KINH NÓI VỀ CÔNG ĐỨC BẢN NGUYỆN CỦA ĐỨC DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI Đúng thực như thế, chính tôi được nghe Một thời bấy giờ. Đức Bạc Già Phạm đi độ các nước, đến thành Quảng Nghiêm. Ngài dừng lại ở dưới cây âm nhạc, cùng với tám nghìn vị đại Bậc-sô, ba vạn sáu nghìn, vị đại Bồ-tát, và các quốc vương, các quan đại thần, các Bà-la-môn, các thầy cư sĩ, thiên, long, bát bộ, nhân với phi nhân, đông không xiết kể, thảy đều cung kính, vây kín xung quanh, Đức Phật thuyết pháp. Con đấng Pháp vương, bấy giờ là Ngài Mạn Thù Sư Lợi, theo uy thần Phật, đương ngồi đứng dậy, hở một vai áo, đầu gối bên hữu, quỳ sát tận đất, nhìn Bạc Già Phạm, cúi mình, chắp tay, bạch rằng Thế Tôn, xin Phật diễn thuyết, cũng giống như thế, diễn những danh hiệu, và những điều nguyện, căn bản lớn lao, công đức tuyệt vời, của các Đức Phật, cho những người nghe, tiêu hết nghiệp chướng, vì muốn lợi lạc, các loài hữu tình, khi tượng pháp chuyển. Bấy giờ Thế Tôn tán thán Đồng tử, Mạn Thù Sư Lợi, Ngài khen ngợi rằng “Hay lắm! Hay lắm! Mạn Thù Sư Lợi, lòng đại bi ông, khuyến thỉnh Ta nói, danh hiệu chư Phật, bản nguyện công đức, để bạt cho hết nghiệp chướng ràng buộc, các loài hữu tình, và để làm cho, lợi ích an lạc, các loài hữu tình, khi tượng pháp chuyển. Ông hãy nghe kỹ, nghiền nghĩ thực khéo, Ta sẽ nói đây”. Mạn Thù Sư Lợi, bạch rằng Xin vâng, xin Thế Tôn nói, chúng con thích nghe. Đức Phật bảo Ngài Mạn Thù Sư Lợi Về phương Đông kia, cách đây xa nhiều vô số Phật độ, nhiều bằng mười số cát sông Găng-giờ, ở đấy có một thế giới gọi là cõi Tịnh Lưu Ly. Đức Phật cõi ấy, hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng, Chính đẳng giác, Minh hành viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Bạc Già Phạm. Ông Mạn Thù ơi, khi Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai còn đương hành đạo Bồ-tát. Ngài đã phát ra, mười hai nguyện lớn, khiến cho hữu tình, cầu gì cũng được. NGUYỆN LỚN THỨ NHẤT Nguyện đời sau này, khi Ta đắc đạo, A nốc đa la tam diễu tam Bồ-đề, thì tự thân Ta, sáng trưng rực rỡ, soi suốt tất cả, vô số thế giới, vô lượng vô biên; dùng ba mươi hai, tướng đại trượng phu, tám mươi tùy hình, để trang nghiêm thân, khiến cho hết thảy, các loài hữu tình, đều được tất cả, như Ta không khác. NGUYỆN LỚN THỨ HAI Nguyện đời sau này, khi Ta đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề, thì tự thân Ta, như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, sạch không vết bẩn, quang minh rộng lớn, công đức cao vời, thân khéo ở yên, trong lưới tia sáng, trang nghiêm hơn cả, mặt trời, mặt trăng, chúng sinh tối tăm, đều được sáng bừng, đâu cũng làm được, mọi sự như ý. NGUYỆN LỚN THỨ BA Nguyện đời sau này, khi Ta đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề, Ta dùng rất nhiều, trí tuệ phương tiện, vô lượng vô biên, khiến cho hữu tình, đều được mọi vật, thụ dụng vô cùng, chẳng để chúng sinh, có chỗ thiếu thốn. NGUYỆN LỚN THỨ TƯ Nguyện đời sau này, khi Ta đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề, nếu có hữu tình, tu hành tà đạo, thì Ta khiến cho, đều được ở yên, trong đạo Bồ-đề; nếu ai hành đạo Thanh Văn, Độc Giác, thì Ta cũng đều, lấy đạo Đại thừa, mà dựng cho yên. NGUYỆN LỚN THỨ NĂM Nguyện đời sau này, khi Ta đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề, nếu có vô lượng, vô biên hữu tình, tu hành phạm hạnh, trong pháp của Ta, thì hết thảy đều được giới chẳng thiếu, đủ giới tam tụ, nếu có ai mà, trót đã phạm giới, nghe tên Ta rồi, lại được tịnh giới, chẳng vào đường ác. NGUYỆN LỚN THỨ SÁU Nguyện đời sau này, khi Ta đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình thân thể hèn kém, mọi căn chẳng đủ, xấu xa, ngu ngốc, mù, điếc, ngọng, câm, què quặt, còng lưng, hóa hủi, điên cuồng, bao nhiêu bệnh khổ, nghe tên Ta rồi, hết thảy đều được, đẹp đẽ sáng suốt, mọi căn hoàn toàn, không mọi tật khổ. NGUYỆN LỚN THỨ BẢY Nguyện đời sau này, khi Ta đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, mắc mọi bệnh khổ, không ai cứu chữa, không chỗ nương thân, không người thân thiết, không cửa không nhà, bần cùng khốn khổ, một khi tên Ta, nghe lọt vào tai, mọi bệnh đều hết, thân tâm yên vui, gia quyến tiền của, thảy đều phong túc, rồi tu đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề. NGUYỆN LỚN THỨ TÁM Nguyện đời sau này, khi Ta đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề, nếu có thân gái, thấy trăm nỗi xấu, bức bách khổ não, sinh lòng chán ngán, muốn bỏ thân gái, nghe tên Ta rồi, thảy đều chuyển được, thân gái thành trai, đủ tướng trượng phu, rồi tu đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề. NGUYỆN LỚN THỨ CHÍN Nguyện đời sau này, khi Ta đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề, khiến những hữu tình, thoát chài lưới ma, thoát được hết thảy, ngoại đạo ràng buộc; nếu lạc vào các, rừng rậm ác kiến, Ta sẽ dắt dẫn, lên đường chính kiến, rồi tu tập dần, mọi hạnh Bồ-tát; chóng chứng được đạo, Vô thượng Bồ-đề. NGUYỆN LỚN THỨ MƯỜI Nguyện đời sau này, khi Ta đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, bị pháp luật bắt, trói buộc đánh đập, giam cầm lao ngục, hoặc bị tử hình, và còn rất nhiều, tai nạn khác nữa, lấn hiếp nhục nhã, lo sầu nung nấu, thân tâm chịu khổ, nếu mà được nghe, danh hiệu của Ta, vì sức oai thần, phúc đức của Ta, đều được giải thoát hết thảy lo khổ. NGUYỆN LỚN THỨ MƯỜI MỘT Nguyện đời sau này, khi Ta đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, bị đói khát khổ, vì kiếm ăn mà, tạo mọi nghiệp ác, khi nghe tên Ta, chuyên tâm trì niệm, thì Ta hãy cho, ăn uống rất ngon, để no thân đã, rồi sau Ta mới, cho ăn Pháp vị, để lập thành người, rốt ráo yên vui. NGUYỆN LỚN THỨ MƯỜI HAI Nguyện đời sau này, khi Ta đắc đạo, Vô thượng Bồ-đề, nếu những hữu tình, nghèo không áo mặc, ruồi muỗi, bức rét, khổ suốt đêm ngày, khi nghe tên Ta, chuyên tâm trì niệm, thì tâm muốn gì, liền được đủ thứ, áo mặc thật đẹp, được cả đồ dùng, quý báu trang nghiêm, đeo hoa ướp hương, âm nhạc múa hát, tùy tâm thích gì, đều được đầy đủ. Ông Mạn Thù ơi, thế là mười hai, nguyện rất nhiệm mầu, của Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng, Chính đẳng giác, khi Ngài còn đương hành đạo Bồ-tát, Ngài đã phát ra. Còn nữa, này ông Mạn Thù Sư Lợi, là những nguyện lớn, của Thế Tôn Dược Sư Quang Như Lai, Ngài đã phát ra, khi Ngài còn đương, hành đạo Bồ-tát, và những công đức, trang nghiêm ở bên, cõi nước của Ngài, nếu Ta nói ra, đến hết một kiếp, hay hơn một kiếp, cũng không hết được. Nhưng có một điều Ở nước Phật kia, một màu thanh tịnh, không có nữ nhân, không có ác thú, và những tiếng khổ; mặt đất thuần là, ngọc phệ lưu ly; những thừng bằng vàng, giăng bên đường đi, thành khuyết, cung, các, hiên, cửa, mạng lưới, đều bằng thất bảo, cũng như thế giới, Cực lạc phương Tây, công đức trang nghiêm, giống nhau không khác. Trong nước có hai, vị đại Bồ-tát Một vị gọi là, Nhật Quang Biến Chiếu. Một vị gọi là Nguyệt Quang Biến Chiếu, đứng đầu tất cả, vô số vô lượng, các vị Bồ-tát. Hai ngài lần lượt, sẽ lên ngôi Phật, đều giữ vững được, kho báu chính pháp, của Đức Thế Tôn, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Ông Mạn Thù ơi, bởi thế cho nên, những thiện nam tử, và thiện nữ nhân, có tín tâm rồi, thời nên phát nguyện, sinh sang thế giới, của đức Phật kia. Bấy giờ Thế Tôn, lại bảo Đồng tử, Mạn Thù Sư Lợi Này ông Mạn Thù, có những chúng sinh, chẳng biết thiện ác, chỉ ôm cái lòng, tham lam keo bẩn, chẳng biết bố thí, và những quả báo, về hạnh bố thí, ngu si không trí, thiếu mất tín căn, chứa nhiều của báu, cầu giữ lấy mãi, thấy kẻ xin đến, tâm họ chẳng mừng, khi bất đắc dĩ, họ phải bố thí, thì họ coi như, cắt miếng thịt họ, rất là đau tiếc. Lại có lắm kẻ, tham lam keo sẻn, tích trữ tiền của, đến ngay thân họ, còn chẳng tiêu dùng, huống lại dám cho, cha mẹ vợ con, tôi đòi sai khiến và kẻ đến xin. Những hữu tình ấy đến lúc mệnh chung, sinh làm ngạ quỷ, hoặc làm bàng sinh, nhưng vì thuở xưa, ở đời từng được, tạm nghe danh hiệu, của Đức Thế Tôn, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nên đương khi ở, trong vòng ác thú, được tạm nhớ đến, danh hiệu của Ngài, ngay trong phút nghĩ, liền ra khỏi vòng, lại được làm người, nhớ được túc mệnh, sợ khổ ác thú, chẳng ham dục lạc, thích làm bố thí, và khen những người, hay làm bố thí; mình có những gì, đều không tham tiếc, dần dà đem cả, đầu mắt chân tay, máu thịt của mình, cho kẻ đến xin, huống còn tiếc gì, đến tài vật khác. Còn nữa này ông Mạn Thù Sư Lợi; nếu những hữu tình, tùy theo Như Lai, nhận các chỗ học, mà phá thi la, lại có kẻ tuy chẳng phá thi la mà phá quỹ tắc, kẻ giữ được cả thi la quỹ tắc, lại hủy chính kiến; lại có kẻ tuy chẳng hủy chính kiến, mà bỏ đa văn, chẳng thể hiểu rõ, nghĩa sâu trong kinh của Phật đã nói. Có kẻ đa văn, lại tăng thượng mạn, vì tăng thượng mạn, che lấp tâm rồi, khen mình chê người, phỉ báng chính pháp, làm bạn với ma, người ngu như thế, tự mình đi vào, con đường tà kiến, lại còn làm cho, vô lượng ức triệu, hữu tình cùng theo, xuống hố hiểm sâu. Những hữu tình này, trôi quanh mãi mãi, trong vòng địa ngục, bàng sinh, quỷ thú, nếu mà được nghe, danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, liền bỏ ác hạnh, tu mọi thiện pháp, chẳng đọa ác thú, dù có kẻ nào, chẳng thể bỏ được, hết mọi ác hạnh, mà tu thiện pháp, phải đọa ác thú, vì nhờ sức thần, bản nguyện của Phật, khiến họ hiện tiền, đã được tạm nghe, danh hiệu của Phật, họ sẽ thoát thân, nơi ác thú kia, lại được làm người, chính kiến tinh tiến, khéo điều hòa được, tâm ý yên vui, liền bỏ được nhà, đến chốn không nhà, chịu theo chỗ học, trong pháp Như Lai, không hề hủy phạm, chính kiến đa văn, hiểu nghĩa rất sâu, bỏ tăng thượng mạn, chẳng báng chính pháp, chẳng bạn với ma, dần dần tu hành, những hạnh Bồ-tát, chóng được vẹn tròn. Còn nữa này ông, Mạn Thù Sư Lợi, nếu những hữu tình, sẻn tham ghen ghét, khen mình chê người, sẽ phải đọa vào, trong ba đường ác, mấy mươi nghìn năm, chịu mọi cực khổ, chịu cực khổ rồi, ở đấy mãn hạn, lại lên nhân gian, làm thân trâu ngựa, lừa và lạc đà, thường bị đòn đánh, đói khát khổ não, lại thường mang nặng, theo đường mà đi, hoặc được làm người, ở nơi hạ tiện, làm kẻ tôi đòi, bị người sai khiến, chẳng được tự tại, nếu xưa làm người, đã từng được nghe, danh hiệu Thế Tôn, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, bởi nhân lành ấy, nay lại nhớ đến, dốc lòng quy y, nhờ thần lực Phật, giải thoát mọi khổ, mọi căn thông lợi, trí tuệ đa văn, thường cầu thắng pháp, thường gặp bạn hiền, dứt hẳn lưới ma, đập vỡ cái xác, vô minh bưng tối, gạn ròng phiền não, giải thoát hết thảy, sinh già bệnh chết, lo sầu khổ não. Còn nữa này ông, Mạn Thù Sư Lợi, nếu những hữu tình, thích gây ngang ngược, đánh nhau kiện nhau, làm cho não loạn, cả mình và người, đem thân, miệng, ý, tạo thêm mãi ra, bao nhiêu nghiệp ác, lần lượt thường làm, sự chẳng lợi ích, mưu hại lẫn nhau, đi gọi các thần, ở rừng ở núi, ở cây ở mả, rồi giết chúng sinh, lấy máu lấy thịt, cúng tế bọn quỷ, Dược xoa, La sát, viết tên kẻ thù, làm hình kẻ thù, làm bùa chú ác để mà nguyền rủa; yểm bùa thành mị, nuôi trùng thành cổ, hô quỷ nhập vào, thây chết đứng dậy, sai đi giết hại, thân mệnh người ta; những hữu tình ấy, nếu mà được nghe, danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thì ác sự kia, đều chẳng hại được; lần lượt hết thảy, đều khởi từ tâm, lợi ích yên vui, không còn có ý não hại hiềm thù, ai cũng vui mừng; mọi vật thụ dụng, tự cho là đủ, chẳng lấn của nhau, mà là cùng làm lợi ích cho nhau. Còn nữa này ông, Mạn Thù Sư Lợi, nếu có bốn chúng, Bật-sô, Bật-sô-ni, Ô-ba-sách-ca, Ô-ba-tư-ca, và những tịnh tín, thiện nam thiện nữ, ai chịu giữ được tám phần trai giới, hoặc suốt một năm, hoặc trong ba tháng, chịu theo chỗ học, để làm thiện căn, nguyện được sinh sang, thế giới Cực lạc, ở bên phương Tây, đến chỗ Đức Phật Vô Lượng Thọ Quang, cầu nghe chính pháp, nhưng chưa quyết định, mà nếu được nghe, danh hiệu Thế Tôn, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thời khi lâm chung, sẽ có tám vị, đại Bồ-tát là Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, Quán Thế Âm Bồ-tát, Đắc Đại Thế Bồ-tát, Vô Tận Ý Bồ-tát, Bảo Đàn Hoa Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Dược Thượng Bồ-tát, Di Lặc Bồ-Tát, tám vị ấy sẽ, đi ở trên không, lại mà chỉ đường, tự nhiên thấy mình, hóa sinh ngay ở, bên thế giới kia, trong đám hoa báu, nhiều màu sắc đẹp. Hoặc là nhân thế, được sinh lên trời, tuy sinh lên trời, mà căn lành cũ, cũng vẫn chưa hết, chẳng phải sinh vào, ác thú nào khác; trên trời tận số, thì xuống nhân gian, hoặc làm Luân vương, coi cả bốn châu, uy đức tự tại, giữ yên vô lượng, trăm nghìn hữu tình, ở trong thập thiện, hoặc sinh vào những, dòng Sát-đế-li, dòng Bà-la-môn, cư sĩ đại gia, rất nhiều của báu, kho tàng đầy nất, hình tướng tốt đẹp, quyến thuộc đông đủ, thông minh trí tuệ, dũng kiện uy hùng, như đại lực sĩ. Nếu là nữ nhân, được nghe danh hiệu, Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, dốc lòng trì niệm; thì sau chẳng phải, làm thân gái nữa. Còn nữa nầy ông, Mạn Thù Sư Lợi, khi Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đắc đạo Bồ-đề, do sức bản nguyện, mà Ngài soi thấy, các loài hữu tình, mắc nhiều bệnh khổ, như là những bệnh, gầy còm, co quắp, khô héo, sốt vàng, hoặc bị trúng độc, ma mị trùng cổ, hoặc bị chết non, hoặc khi chết uổng. Ngài muốn khiến cho, những bệnh khổ ấy, đều được tiêu trừ, và có cầu gì, cũng được mãn nguyện, thời Ngài liền vào, cảnh Xa-ma-đề, gọi là cảnh Định, diệt hết khổ não, cho các chúng sinh. Đã vào Định rồi, ở trong nhục kế, phóng đại quang minh, trong đại quang minh, diễn nói thần chú, Đại Đà-la-ni “Nam mô Bạc già phạt đế bệ sái xã lũ rô, bệ lưu li, bát lạt bà, hắt ra xà giã, đát tha yết đa gia, a ra hắt đế. Tam diễu tam bột đà gia, đát điệt tha. Án, bệ sái thệ, bệ sái thệ, bệ sái xã, tam một yết đế tóa ha”. Khi trong quang minh, nói thần chú rồi, trái đất rúng động, phóng đại quang minh, hết thảy chúng sinh, bệnh khổ đều trừ, được vui yên ổn. Ông Mạn Thù này! Thấy ai nam, nữ, nếu có bệnh khổ, thì nên nhất tâm, vì người bệnh ấy, tắm gội, súc miệng, sạch rồi tụng chú, một trăm tám lượt, vào một thức ăn, hoặc vào vị thuốc, hoặc vào nước lọc, không có vi trùng, rồi đem cho uống, thì bệnh khổ gì, cũng đều tiêu hết. Nếu có cầu gì, dốc lòng tụng niệm, cũng đều được cả; và lại còn được, sống lâu vô bệnh; sau khi mệnh chung, sinh sang cõi kia, được ngôi Bất thoái, cho đến tận khi, đắc đạo Bồ-đề. Bởi thế cho nên, ông Mạn Thù ơi, nếu có nam tử, nữ nhân nào mà dốc lòng tôn trọng, cung kính cúng dàng, Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nên thường trì chú, chớ để lãng quên. Còn nữa này ông, Mạn Thù Sư Lợi, nếu có nam tử, nữ nhân tịnh tín, được nghe tất cả, danh hiệu của Ngài, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng, Chính đẳng giác, nghe rồi tụng trì; sáng sớm trở dậy, xỉa răng, tắm, gội, súc miệng thanh sạch, dâng các hoa thơm, hương đốt, hương bôi, và các âm nhạc, cúng dàng tượng Phật, đem kinh này ra, hoặc mình tự viết, hoặc bảo người viết, nhất tâm chịu nghe, chịu nhớ lấy nghĩa, đối với Pháp sư, phải sắm hết thảy, các món cúng dàng, đủ để nuôi thân, thảy đều cấp cho, đừng để thiếu thốn; như thế liền được, chư Phật hộ niệm, cầu gì cũng được, và được cả đến, đạo quả Bồ-đề… Bấy giờ Đồng tử, Mạn Thù Sư Lợi, bạch Đức Phật rằng Lạy Đức Thế Tôn, con thề đến khi, đời tượng pháp chuyển, con đem rất nhiều, các phép phương tiện, khiến người tịnh tín, thiện nam thiện nữ, được nghe danh hiệu, Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cả trong khi ngủ, cũng đem hiệu Phật, giác ngộ vào tai. Bạch Đức Thế Tôn, nếu ai thụ trì, đọc tụng kinh này, hoặc là diễn thuyết, khai thị cho người, hoặc tự mình viết, hoặc bảo người viết, hoặc là tôn trọng, cung kính kinh này, đem nhiều các thức, hương hoa, hương bột, hương đốt, hương bôi, tràng hoa, anh lạc, phướn lọng, âm nhạc, để mà cúng dàng; lấy sợi ngũ sắc làm túi đựng kinh, quét rửa chỗ sạch, thiết lập tòa cao, làm chỗ để kinh, bấy giờ sẽ có, bốn Đại Thiên vương, cùng với quyến thuộc, và Thiên chúng khác, mấy mươi trăm nghìn, đều đến chỗ ấy, gìn giữ cúng dàng. Bạch Đức Thế Tôn Nếu chỗ nào phát, kinh báu này ra, có người thụ trì, và nhờ công đức, bản nguyện của Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, được nghe danh hiệu, nên biết chỗ ấy, không còn có người, bị chết dữ dội, chẳng ai còn bị, bọn thần quỷ ác, đoạt mất tinh khí; ai bị đoạt rồi, lại được thân tâm, yên vui như cũ. Đức Phật bảo Ngài, Mạn Thù Sư Lợi Đúng thực như thế, đúng thực như thế! Ông nói đúng lắm! Ông Mạn Thù ơi, nếu có thiện nam, thiện nữ tịnh tín, mà muốn cúng dàng, Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, trước hết phải tạo, hình tượng của Ngài, lập tòa thanh tịnh, mà rước tượng lên, rắc các thứ hoa, đốt các thứ hương, dùng nhiều tràng phan, trang nghiêm chỗ ấy, bảy ngày, bảy đêm; chịu giữ được đủ, tám phần trai giới, ăn uống thanh tịnh, tắm gội sạch thơm, mặc áo thanh tịnh, tâm phải thanh tịnh, không chút vẩn đục, không chút giận dữ, não hại đến ai; đối với hết thảy, các loài hữu tình, phải khởi ra tâm, lợi ích yên vui, từ, bi, hỷ, xả, bình đẳng như nhau; đàn hát tán thán, nhiễu quanh tượng Phật, về bên tay hữu, lại phải nghĩ nhớ, công đức bản nguyện, của Đức Phật kia, đọc tụng kinh này, suy nghĩ nghĩa kinh, rồi đem diễn thuyết, khai thị cho người. Thế rồi tùy muốn, cầu gì cũng được cầu sống lâu, được sống lâu, cầu giàu có được giàu có, cầu quan chức, được quan chức, cầu con cái, được con cái. Hoặc có người nào, bỗng thấy mộng ác, những hình tướng ác, hoặc chim quái ác, ở đâu đến đậu, hoặc có lắm sự quái ác hiện ra, ở ngay chỗ ở, người ấy nếu đem, các thức nhiệm mầu, cung kính cúng dàng, Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thời những mộng ác, những hình tướng ác, những điềm chẳng lành, đều biến mất hết, chẳng làm hại được. Hoặc có sợ hãi, tai nạn thủy hỏa, binh đao độc ác, cheo leo hiểm nghèo; voi dữ, sư tử, hùm, sói, gấu bi, rắn, rết, độc ác, sâu, bọ, muỗi, ruồi, nếu hay dốc lòng, niệm Đức Phật kia, cung kính cúng dàng, thời sợ hãi ấy, thảy đều giải thoát. Nếu có nước khác, xâm lấn quấy rối, giặc cướp phản loạn, thì người cung kính, niệm Đức Phật kia, cũng đều giải thoát. Còn nữa này ông, Mạn Thù Sư Lợi, nếu có những người, thiện nam thiện nữ, lòng tin chân tịnh, cho đến hết đời, chẳng thờ thần khác, chỉ dốc một lòng, quy Phật Pháp Tăng, chịu giữ cấm giới hoặc năm giới, mười giới, bốn trăm giới Bồ-tát, hai trăm năm mươi giới Bật-sô, năm trăm giới Bật-sô-ni, nhưng hoặc ở trong, những chỗ thụ giới, có ai hủy phạm, sợ đọa ác thú, mà hay chuyên niệm, danh hiệu Phật kia, cung kính cúng dàng, thì quyết chẳng sinh, vào ba đường ác. Hoặc có đàn bà, tới khi sinh nở, chịu rất đau khổ, mà hay dốc lòng, niệm danh hiệu Phật, lễ bái tán thán, cung kính cúng dàng, thì mọi đau khổ, đều trừ diệt hết; đứa con sinh ra, thân phận đầy đủ, hình sắc tốt đẹp, ai thấy cũng mừng, nhanh nhẹn thông minh, yên ổn ít bệnh, không bị phi nhân, đoạt mất tinh khí. Bấy giờ Thế Tôn, bảo Át Nan rằng Như Ta khen ngợi, công đức của đấng Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đó là những chỗ, hành vi rất sâu, của các Đức Phật, khó hiểu suốt lắm, ông có tin không? Át Nan bạch rằng Bạch Đức Thế Tôn, con đối với kinh, của Phật đã nói, chẳng dám nghi hoặc, là vì lẽ sao? Vì rằng ba nghiệp Thân, ngữ, ý của hết thảy chư Phật, đều thanh tịnh cả. Lạy Đức Thế Tôn, vừng nhật, nguyệt kia, làm rơi xuống được, núi Diệu Cao vương, làm nghiêng đổ được, lời chư Phật nói, không có khác được. Bạch Đức Thế Tôn, có những chúng sinh, tín căn chẳng đủ, nghe nói những chỗ, hành vi rất sâu, của các Đức Phật, mà nghĩ ra rằng Làm gì chỉ niệm, một danh hiệu Phật, của Ngài Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, mà được ngay những, thắng lợi công đức, nhiều đến như thế? Vì chẳng tin thế, sinh ra phỉ báng, người đó ở chỗ, đêm dài tối mịt, mất hết lợi lạc, đọa các đường ác, chuyển mãi không cùng. Phật bảo Át Nan Những hữu tình ấy, nếu nghe danh hiệu, Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, dốc lòng trì niệm, chẳng sinh nghi hoặc, thì không khi nào, phải đọa ác thú. Ông Át Nan ơi, đó là những chỗ, hành vi rất sâu, của các Đức Phật, rất khó tin lắm, rất khó hiểu lắm, mà nay ông chịu, tin được như thế, thời nên biết là, đều nhờ uy lực, của Phật Như Lai. Này ông Át Nan, hết thảy các bậc, Thanh Văn, Độc Giác và các Bồ-tát, còn chưa đăng địa, đều chẳng tin hiểu, được đúng như thực, chỉ trừ một hạng, các vị Bồ-tát, Nhất sinh sở hệ. Ông Át Nan ơi, làm được thân người, đã là khó lắm; được biết kính tin, tôn trọng Tam Bảo, cũng là khó lắm; được nghe danh hiệu, Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thời lại khó hơn. Ông Át Nan ơi, những hạnh Bồ-tát, những phép phương tiện, những nguyện lớn lao, của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai; nếu ta nói ra, suốt trong một kiếp, hay hơn một kiếp, thì kiếp mau hết, mà những hạnh nguyện, phương tiện của Ngài, vẫn không thấy hết. Trong chúng bấy giờ, có đại Bồ-tát, tên là Cứu Thoát, liền từ chỗ ngồi, đứng dậy kéo áo, hở vai bên hữu, quỳ gối bên hữu, sát xuống tận đất, cúi mình chắp tay, mà bạch Phật rằng Đại đức Thế Tôn, khi tượng pháp chuyển, có những chúng sinh, bị nhiều hoạn nạn, làm cho khốn khổ, ốm lâu gầy mòn, chẳng ăn uống được, cổ ráo môi khô, thấy các phương tối, tướng chết hiện ra; cha mẹ thân thuộc, bạn bè quen biết, xúm quanh than khóc; thân người ốm kia, vẫn nằm nguyên đấy, mà thấy sứ giả, của vua Diêm ma, dẫn thần thức mình, đến trước cửa tòa, Pháp vương Diêm ma; những loài hữu tình, người nào cũng có một Thần Câu sinh, người ấy làm gì, tội hay là phúc, Thần đều chép đủ, rồi đem trình hết, cho vua Diêm ma; bấy giờ vua liền, xét hỏi người ấy, tính toán mọi việc, người ấy đã làm, theo chỗ tội phúc, ấy mà xử đoán. Lúc đó những người, thân thuộc quen biết, của người ốm ấy, nếu hay quy y, Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cho người ốm ấy, thỉnh các chúng Tăng, chuyên đọc kinh này, đốt đèn bảy từng, treo lá phướn thần, năm sắc nối mệnh, thần thức người ấy, hoặc có chỗ đó, mà được trở về, tự thấy rõ ràng, như trong giấc mộng; hoặc quá bảy ngày, hoặc hăm mốt ngày, hoặc băm nhăm ngày, hoặc bốn chín ngày, thần thức người ấy, khi được trở về, như chiêm bao tỉnh, tự mình nhớ biết được các quả báo, của các nghiệp thiện, và nghiệp bất thiện; vì tự chúng lấy, quả báo của nghiệp, nên chừa cho đến, khi mắc nạn chết, cũng chẳng dám làm, những nghiệp ác nữa. Vì thế cho nên, những người tịnh tín, thiện nam thiện nữ, đều nên trì niệm, danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, tùy sức mình mà, cung kính cúng dàng. Bấy giờ Át Nan, hỏi ngài Cứu Thoát Bạch Thiện nam tử, cung kính cúng dàng, Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, phải nên thế nào, đèn phướn nối mệnh, nên làm thế nào? Ngài Cứu Thoát nói Bạch Đại đức, nếu có người ốm, muốn thoát bệnh khổ, nên vì người ấy, bảy ngày, bảy đêm, chịu giữ cho đủ, tám phần trai giới; nên tùy lực sắm, các thức ăn uống, và các đồ dùng, cúng Bật-sô Tăng; đêm ngày sáu buổi, lễ bái hành đạo, cung kính cúng dàng, Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, tụng đọc kinh này, bốn mươi chín lượt, thắp bốn chín đèn, tạo bảy pho tượng, Đức Như Lai kia; trước mỗi vị tượng, để bảy ngọn đèn, mỗi một đèn sáng, to bằng bánh xe, suốt bốn chín ngày, không lúc nào tắt; làm một lá phướn, ngũ sắc và dài, bốn chín gang tay; phải đem phóng sinh, các loài cho đủ, bốn mươi chín thứ, thời có thể qua, tai nạn nguy ách, chẳng bị chết uổng, quỷ ác hãm hại. Này ông Át Nan, lại còn như khi, các vua Quán đỉnh, và Sát-đế-lị, tai nạn khởi lên, như là những nạn, nhân dân tật dịch, nước khác lấn bức, trong nước phản nghịch, sao lạ mọc ra, nhật thực nguyệt thực, mưa gió trái mùa, đến mùa chẳng mưa, các vua Quán đỉnh, và Sát-đế-lị, bấy giờ đối với hết thảy hữu tình, khởi tâm từ bi, tha những tù tội, theo phép cúng dàng, trước đã nói kia, cung kính cúng dàng, Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nhờ thiện căn ấy, và sức bản nguyện, của Như Lai kia, khiến cho cả nước, liền được yên ổn, mưa gió thuận thời, lúa cấy được mùa, hết thảy hữu tình, vô bệnh mừng vui, ở trong nước ấy, không có những thần, bạo ác Dược Xoa, não hại hữu tình, những hình tướng ác, thảy đều biến mất; các vua Quán đỉnh, và Sát-đế-lị, sống lâu mạnh khỏe, vô bệnh tự tại, lợi ích đều tăng. Này ông Át Nan, nếu các hoàng hậu, hoàng phi, công chúa, thái tử, vương tử, đại thần, tể tướng, thế nữ trong cung, các quan và dân, có mắc bệnh khổ, và ách nạn gì, cũng nên dựng cây phướn thần năm sắc, thắp đèn tiếp sáng, phóng sinh các loại, rắc các thứ hoa, đốt các hương thơm, bệnh được khỏi hết, nạn đều giải thoát. Bấy giờ Át Nan, hỏi ngài Cứu Thoát – Bạch thiện nam tử, tại làm sao mà, mạng người đã hết, có thể tăng thêm? Ngài Cứu Thoát nói – Bạch Đại đức, ngài há chẳng nghe, Như Lai nói có, chín thứ chết uổng? Bởi vậy khuyên làm, đèn phướn nối mệnh, tu mọi phúc đức; vì tu phúc nên, hết đời thọ mệnh, chẳng mắc nạn khổ. Át Nan hỏi rằng – Chín thứ chết uổng, ấy là những gì? Ngài Cứu Thoát nói – Nếu những hữu tình, bệnh tuy nhẹ mà, không thầy không thuốc, không người chăm nom, hay có gặp thầy, lại cho trái thuốc, thực chẳng đáng chết, mà phải chết uổng, lại tin các thầy, tà ma ngoại đạo, yêu nghiệt thế gian, nói nhảm họa phúc, sinh ra sợ hãi, tâm chẳng được yên, xem bói thấy xấu, giết nhiều chúng sinh, khẩn vái thần thánh, phụ ma quỷ lên, ban cho hạnh phúc, muốn mong sống thêm, vẫn chẳng thể được; ngu si mê hoặc, mê tín tà kiến, thành ra chết uổng, đọa vào địa ngục, không có ngày ra, như thế gọi là, một thứ chết uổng. Hai là kẻ bị, vương pháp xử tử. Ba là những kẻ, săn bắn chơi bời, say đắm tửu sắc, rông rỡ quá độ, bị loài phi nhân, đoạt mất tinh khí, thành ra chết uổng. Bốn là chết cháy. Năm là chết đuối. Sáu là chết vì, các loài ác thú, cắn chết ăn thịt. Bảy là chết vì, ngã xuống sườn núi. Tám là chết vì, trúng phải thuốc độc, bùa chú nguyền rủa, thây ma đứng dậy, các thứ sát hại. Chín là bị đói, bị khát khốn khổ, chẳng được ăn uống, mà phải chết uổng. Đấy là Như Lai, nói qua chín thứ, chết uổng như thế, còn nhiều vô số, các thứ chết uổng, nói sao cho xiết. Lại còn đây nữa, này ông Át Nan, vua Diêm ma kia, chủ lĩnh giữ sổ, ghi tên thế gian, nếu những hữu tình, phạm những tội như bất hiếu ngũ nghịch, phá nhục Tam Bảo, hoại pháp vua quan, hủy cả tín giới, thì vua Diêm la, tùy tội nặng nhẹ, xét mà xử phạt. Vì thế ta nay, khuyên những hữu tình, thắp đèn treo phướn, phóng sinh tu phúc, cho thoát khổ ách, chẳng gặp tai nạn. Bấy giờ trong chúng, có mười hai vị Đại tướng Dược Xoa, đều ngồi ở hội, ấy là các vị Đại tướng Cung Tỳ La, Đại tướng Phạt Chiết La, Đại tướng Mê Si La, Đại tướng An Đễ La, Đại tướng Át Nễ La, Đại tướng San Để La, Đại tướng Nhân Đạt La, Đại tướng Ba Di La, Đại tướng Ma Hổ La, Đại tướng Chân Đạt La, Đại tướng Chiêu Đổ La, Đại tướng Tỳ Yết La. Mười hai vị này, Đại tướng Dược Xoa, mỗi vị đều có bảy nghìn Dược Xoa, để làm quyến thuộc, đồng thời lên tiếng, mà bạch Phật rằng Lạy Đức Thế Tôn, chúng con ngày nay, nhờ uy lực Phật, được nghe danh hiệu, Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, chẳng còn có sợ, những nơi ác thú, chúng con bảo nhau, đều cùng một lòng, quy Phật, Pháp, Tăng, cho đến hết đời, thề xin gánh vác, hết thảy hữu tình, làm việc nghĩa lợi, nhiêu ích yên vui; bất cứ chỗ nào trong các thôn quê, thành thị làng nước, rừng cây vẳng lặng, mà có kinh này, ban phát đến nơi, rồi có người nào, thụ trì danh hiệu, Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cung kính cúng dàng, quyến thuộc chúng con, hộ vệ người ấy, khiến cho giải thoát, hết thảy khổ nạn, có cầu nguyện gì, đều được đủ cả; hoặc có ai cầu, thoát khỏi bệnh tật, ách nạn cũng nên, đọc tụng kinh này, lấy chỉ ngũ sắc, mà kết thành chữ, tên của chúng con, được như nguyện rồi, sau hãy cởi ra. Bấy giờ Thế Tôn, khen ngợi các vị, Đại tướng Dược Xoa. Ngài liền nói rằng Hay lắm! Hay lắm! Tướng Đại Dược Xoa, trong đoàn các ông, vì nhớ báo ân, Đức Thế Tôn Dược Sư Quang Như Lai, thường nên cứ làm, như thế cho được, lợi ích yên vui, hết thảy hữu tình. Bấy giờ Át Nan, bạch Đức Phật rằng Lạy Đức Thế Tôn, pháp môn này nên, đặt tên là gì, và chúng con phải, phụng trì thế nào? Phật bảo Át Nan Pháp môn này gọi, là pháp nói những, công đức bản nguyện, của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cũng gọi là pháp, nói những thần chú, kết nguyện của mười hai vị Thần tướng, lợi ích hữu tình; cũng gọi là pháp, bạt trừ hết thảy, mọi thứ nghiệp chướng; nên phụng trì đúng, những nghĩa như thế. Khi Bạt Già Phạm, nói lời ấy rồi, các đại Bồ-tát, và đại Thanh Văn, quốc vương, đại thần, Bà-la-môn, cư sĩ, Thiên, Long, Dược xoa, Kiền thát phạ, A tố lạc, Yết lộ trà, Khẩn nại lạc, Mạc hô lạc già, nhân và phi nhân, hết thảy đại chúng, nghe lời Phật nói, đều cả vui mừng, tin chịu vâng làm. KINH DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI BẢN NGUYỆN CÔNG ĐỨC xong BÀI TÁN NHIỄU ĐÀN Mười hai Đại tướng Dược Xoa, giúp Phật tuyên truyền, chỉ ngũ sắc kết thành tên, cầu nguyện được chu viên, rửa sạch oan khiên, phúc thọ khang vẹn tuyền. Nam mô Bạt già phạt đế bệ sái xã lũ rô, bệ lưu li, bát lạt bà, hắt ra xà giã, đát tha yết đa gia, a ra hắt đế, tam diễu tam bột đà gia, đát diệt tha. Án, bệ sái thệ, bệ sái thệ, bệ sái xã, tam một yết đế sa ha. Giải kết, giải kết, giải oan kết, Nghiệp chướng bao đời đều giải hết Rửa sạch lòng trần phát tâm thành kính, Đối trước Phật đài cầu giải kết. Dược Sư Phật, Dược Sư Phật. Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật, Tùy tâm mãn nguyện Dược Sư Phật. Nam mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật. 3 lần MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhật thiết khổ ách. Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc; thụ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị. Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm, thị cố không trung vô sắc, vô thụ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí, diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố. Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quải ngại, vô quải ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu kính Niết Bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhã Ba La Mật Đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu-tam-bồ-đề. Cố tri Bát-nhã Ba La Mật Đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát-nhã Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú viết “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.” Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa 3 lần BẠT NHẤT THẾ NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BẢN ĐẮC SANH TỊNH ĐỘ ĐÀ-LA-NI 1 tiếng chuông Nam-mô a-di-đa-bà-dạ, Đa-tha-dà-đa-dạ, Đa-địa-dạ-tha. A-di-rị-đô-bà-tỳ. A-di-rị-đá, Tất-đam-bà-tỳ. A-di-rị-đá, Tì-ca-lan-đế. A-di-rị-đá, Tì-ca-lan-đá. Già-di-nị, Già-già-na, Chỉ-đa-ca-lệ, Sa-bà-ha 3 lần, 1 tiếng chuông BÀI TÁN CHUNG Hải hội Dược Sư, sáng rực thần quang, tám vị Bồ-tát giáng cát tường, bảy vị Phật tuyên dương, nhật nguyệt hồi quang, ban phúc thọ an khang. Dược Sư Phật, Dược Sư Phật Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật. BÀI TÁN KINH Sa bà chẳng ở được lâu dài, Sớm liệu tụng Kinh cửa Phật đài, Hai sáu nguyện vương tiêu tội hết, Ba nghìn Hóa Phật dũ lòng soi Hoa sen Tây Trúc đầy thơm ngát, Quả phúc Nam Diêm được tốt tươi, Giải kết, tiêu tai, thêm tuổi thọ, Vững vàng bản mệnh, được yên vui. NIỆM PHẬT và NHIỂU ĐÀN DƯỢC SƯ Mười hai nguyện lớn, Giáo chủ Đông phương. Bốn chín đèn soi sáng đàn trường. Bảy bảy đức chân thường, lễ bái tán dương. Hết tai nạn được thọ trường. Nam mô Dược Sư Hải Hội Phật Bồ-tát Ma ha tát. Nam mô Tiên Tai Diên Thọ Dược Sư Phật. 1 tràng Nam mô Nhật Quang Biến Chiếu Bồ-tát 10 lần Nam mô Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ-tát 10 lần Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ-tát 10 lần TÁN PHẬT và LỄ PHẬT 1. Nhất tâm kính lễ Phật Thiện Danh Xưng, Cát Tường Vương ở cõi Quang Thắng phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. 1 lễ 2. Nhất tâm kính lễ Phật Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương ở cõi Diệu Bảo phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. 1 lễ 3. Nhất tâm kính lễ Phật Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu ở cõi Viên Mãn Hương Tích phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. 1 lễ 4. Nhất tâm kính lễ Phật Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường ở cõi Vô Ưu phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. 1 lễ 5. Nhất tâm kính lễ Phật Pháp Hải Lôi Âm ở cõi Pháp Tràng phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. 1 lễ 6. Nhất tâm kính lễ Phật Pháp Hải Thắng Tuệ Du Hý Thần Thông ở cõi Thiện Trụ Bảo Hải phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. 1 lễ 7. Nhất tâm kính lễ Phật Dược Sư Lưu Ly Quang ở cõi Tịnh Lưu Ly phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. 1 lễ 8. Nhất tâm kính lễ Kinh Bản Nguyện Công Đức của Phật Dược Sư và chú Quán Đỉnh cùng Tôn Pháp ở khắp Pháp giới. 1 lễ 9. Nhất tâm kính lễ Bồ-tát Nhật Quang Biến Chiếu ở cõi Tịnh Lưu Ly phương Đông, cùng chư Bồ-tát ở khắp Pháp giới. 1 lễ 10. Nhất tâm kính lễ Bồ-tát Nguyệt Quang Biến Chiếu ở cõi Tịnh Lưu Ly phương Đông cùng chư Bồ-tát ở khắp Pháp giới. 1 lễ 11. Nhất tâm kính lễ Thánh chúng trong Hải hội Thanh tịnh ở cõi Tịnh Lưu Ly phương Đông, cùng Thánh chúng ở khắp Pháp giới. 1 lễ 12. Con nay quy mệnh, sám hối thề nguyện đoạn trừ tất cả ba chướng cho pháp giới chúng sinh và tứ ân, tam hữu. 1 lễ CA DƯƠNG XƯNG TÁN PHẬT Điệu nhạc cõi Đông Phương Kính Lễ Xưng Tán Cúng Dường Đức Phật Dược Sư Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật Một nén hương thơm con xin dâng lên Người – Đức Phật Dược Sư Mười hai nguyện lớn của Người đem đến cho đời bằng niềm vui Nhân gian bước qua bao la bể khổ Cho con bước qua bao bến mê đời Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật Người đã xua tan bao nhiêu nỗi ưu phiền khổ lụy đời con Tìm lên cõi phúc trong đời Quỳ dưới chân Ngài nguyện thành tâm Con xin phát nguyện nương thân cửa Phật, trăm năm sống vui trọn kiếp con người ĐK Phật Dược Sư – hào quang sáng ngời, hào quang sáng ngời Soi đường chúng con, vượt qua tăm tối Phật Dược Sư – bàn tay nhiệm mầu xoa dịu nỗi đau Nỗi đau tật bịnh, xua tàn lo buồn trầm luân thế gian Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật Người đã khai tâm con – tu thân tu đời tu Đạo từ bi Trầm hương tỏa ngát đất trời, quỳ dưới chân Ngài Phật Dược Sư Con xin chấp tay, con xin khấn nguyện, cho con sống vui trọn kiếp con người … Bài nhạc Đạo Ca tuyệt vời này được Đại chúng thành kính thường hát cúng dường sau khi nhiễu và lễ Phật tại Tu Viện Hộ Pháp CÁT TƯỜNG NGUYỆN KỆ KINH HỒI HƯỚNG Trì kinh công đức, hạnh nhiệm mầu, Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu, Tất cả chúng sanh trong pháp giới, Hướng về Phật Pháp tỏ Đạo mầu. 1 tiếng chuông -Nguyện cho ba chướng tiêu tan, Phiền não dứt sạch, tuệ căn sáng ngời, Cầu cho con được đời đời, Hành Bồ-Tát Đạo, cứu đời lầm than. 1 tiếng chuông -Nguyện sanh Tây-Phương, cõi Lạc Bang Chín phẩm hoa sen, nơi hóa sanh. Hoa nở thấy Phật, quả viên thành, Bồ-Tát bạn lành với chúng con. 1 tiếng chuông -Nguyện đem công đức này, Hướng về khắp tất cả, Đệ tử và chúng-sinh, Đều trọn thành Phật-đạo. 2 tiếng chuông PHỤC NGUYỆN Tùy nghi thêm hoặc giảm theo tâm nguyện Lễ bái Tam Bảo và niệm Phật trì kinh xong xin quý vị phát một lời chí tâm Phục Nguyện Nam mô A-Di-Đà Phật phục nguyện Tam-Bảo chứng-minh, oai thần hộ niệm, Bồ-Tát, Thanh-Văn, Phạm-vương, Đế-thích, Tứ Thiên-vương, Chúng Thiên-long Bát-bộ, Hộ-Pháp, Thần-vương, tất cả thiện-thần tại Tu Viện Hộ Pháp đồng thùy chứng giám. Hôm nay, đệ-tử/Tỳ kheo ………. cùng chư thiện nam tín nữ Phật tử chúng con vâng lời Phật dạy thọ trì đọc tụng Đại-thừa kinh chú, niệm Phật, lễ Phật công-đức chỉ vì muốn hồi hướng trang nghiêm Tây Phương Tịnh-độ. Trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam-đồ, nếu người nào hôm nay thấy nghe, đều phát lòng niệm Phật, đồng cầu sanh về thế giới Tây-Phương Cực- Lạc, đồng viên thành Phật-đạo. Nguyện cho Phật Pháp mỗi ngày tăng huy, Pháp-luân thường chuyển, mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc, người Việt-Nam ngày tự do đoàn tụ sớm được thành tựu. Duy nguyện đồng nhờ oai thần Phật lực, Pháp lực, Hiền Thánh Tăng lực gia trì hiện tiền đệ-tử……… chúng con, đàn na thí chủ, nam nữ Phật tử Hộ Trì Ngôi Tam Bảo Tu Viện Hộ Pháp, phương danh Phật tử cúng Đại Đàn Dược Sư, và dâng sớ kỳ an, đảo bệnh tại Tu Viện Hộ Pháp, thân tâm thường an lạc, tứ đại điều hòa, tai qua nạn khỏi, bệnh tật tiêu trừ, thường được kiết tường, viễn ly khổ ách. Đạo tâm kiên cố, đạo hạnh tinh chuyên, nội ma bất khởi, ngoại chướng vô xâm, sở nguyện tùy tâm cát-tường như ý. Nghiệp chướng, báo chướng, phiền não sở tri chướng, vô minh trần lao, vi tế tội hoặc, đều được tiêu diệt, sớm thành Đạo quả. Lại nguyện, đời đời sanh ra chánh tín dốc lòng hộ trì ba ngôi Tam-Bảo, kiến dựng Đạo-tràng khắp nơi khắp xứ, phá lưới mê lớp lớp trùng trùng, hàng phục chúng ma, thiệu long Tam-Bảo, thừa hành Phật-sự Mười Phương Chư Phật không biết mỏi mệt, tu học hết thảy các Pháp môn sớm được thông đạt, rộng tu phước huệ, rộng độ chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện đem công đức này hồi hướng kỳ siêu cho Cửu-huyền Thất-tổ, cha mẹ nhiều đời bà con nhiều kiếp, thí chủ đàn na, sư trưởng lương bằng, oán đối cựu thù đồng được nhờ ân đức Tam-Bảo, đồng được siêu sanh Tịnh Độ. Cầu nguyện Tu Viện Hộ Pháp chư vị hữu công, tiền hậu công đức, quy-y ký tự, quá cố chư hương linh liệt vị. Chú nguyện Tu Viện Hộ Pháp nội ngoại khuôn viên mê linh khô cốt, thổ mộc tà tinh, ly mỵ vọng lượng, trệ phách cô hồn, oan hồn uổng tử, chư linh liệt vị. Đồng nguyện Thế giới đương thời, tiền hậu chiến tranh, thiên tai bão lụt, động đất sóng thần, chiến sĩ trận vong, nam phụ lão ấu, thủy lục không hành, hà sa nam nữ, vô tự âm linh cô hồn. Cầu cho Đồng-bào Việt Nam tỵ nạn ly hương biệt xứ, bất tri danh tánh, bất tường địa phương, tử nạn hải trung, hải tặc, phiêu trầm thất lạc, tán mạng chung thân, ôn hoàn yểu thệ, tự vận tự ải, trúng than trúng dược, chư nhơn bất hạnh đương thời, trục thai phá noãn, sản nạn chi lưu, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, huyệt sào tảo thương, sa lạc bất tường, vong biên thất ký, thất tích mộ phần, trung trung đẳng đẳng chư hương linh liệt vị, cập chư hương linh ký tự thờ phượng tại Tu Viện Hộ Pháp, và hiện tiền quá vãng hương linh …. Pháp danh….. đều nhờ Phật lực, đến ngay Đạo-tràng, nghe kinh thính Pháp, phát tâm Bồ-đề, quy-y Tam-Bảo, tinh chuyên niệm Phật, sớm giác tỉnh lẽ đời sinh diệt vô thường, cầu siêu sanh về cõi an vui Tịnh-độ. Chúng con kính ngưỡng nguyện Hồng Ân Tam Bảo từ bi thương xót chúng sanh và chúng con mà chứng minh nhiếp thọ, và gia trì cho những lời nguyện trên sớm được thành tựu. Phổ nguyện, âm siêu, dương thới, pháp-giới chúng sanh, hữu tình cùng vô-tình đồng thành …. nhịp dồi nhiều tiếng mõ …Phật……đạo. * Đại chúng đồng thanh hòa Nam-Mô A-Di-Đà Phật. gióng 2 tiếng chuông TAM QUI-Y * Tự Qui-y Phật, xin nguyện chúng-sinh Thể theo Đạo cả, phát lòng vô-thượng. gióng 1 tiếng chuông, 1 lạy * Tự qui-y Pháp, xin nguyện chúng sinh Thấu rõ Kinh tạng, trí tuệ như biển. gióng 1 tiếng chuông, 1 lạy * Tự qui-y Tăng, xin nguyện chúng sinh, Thống lý Đại-chúng, hết thảy không ngại. 1 tiếng chuông, 1 lạy Tứ Hoằng Thệ Nguyện Chúng sanh vô biên, thệ nguyện độ. Phiền não vô tận, thệ nguyện đọan. Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học. Phật-đạo vô-thượng, thệ nguyện thành. Hòa… Nam… Thánh… Chúng… 4 tiếng chuông, dứt hết Cập nhật thông tin chi tiết về Ngày Mùng 1 Tụng Kinh Gì Và Tụng Kinh Thế Nào Cho Đúng? trên website Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành! Đạo làm con phải biết phụng dưỡng cha mẹ khi còn sống và thờ cúng Gia tiên. Ngày kỵ Gia tiên, tức là ngày cúng giỗ sau tang chế của người thân trong nhà, nên có lễ cáo hôm trước. Hoặc đèn hương từ sớm đến chiều cúng. Tức là có ý mời trước, thể hiện thịnh tình đối với Hương linh. Lễ vật cúng Gia tiên thì tùy lòng, nhiều ít, các món mà Gia tiên thích… do gia chủ bày biện nhiều ít tùy hoàn cảnh. Lễ cúng Cát kỵ Kể từ năm thứ ba trở đi, ngày giỗ là ngày giỗ thường, còn gọi là cát kỵ là ngày giỗ lành. Qua hai năm với Tiểu tường và Đại tường, người chết còn nằm dưới huyệt hung táng, nghĩa là táng lúc đầu tiên. Sau ngày Đại tường, con cháu làm lễ cát táng tức là lễ bốc mộ, nhặt hài cốt của người chết sang vào tiểu nhỏ để táng ở một nơi khác. Việc táng này gọi là cát táng Những ngày giỗ sau lễ cát táng gọi là cát kỵ. Vì sự tụ họp của con cháu để tưởng niệm người đã khuất, chính là một điều tốt đẹp. Ngoài ra, trong thời gian hung táng, con cháu còn lo sợ vong hồn người khuất bị trùng quỷ quấy nhiễu, còn khi đã cát táng, không còn trùng quỷ nào có quyền hành tới người chết nữa. Ngày tiên thường Ngày tiên thường là ngày trước ngày giỗ. Còn có nơi gọi là cáo giỗ, bởi trong ngày tiên thường, con cháu báo cáo cho người khuất sự cúng giỗ ngày hôm sau. Trong ngày tiên thường, người đứng giỗ làm lễ cáo với Thổ công ngày hôm sau là ngày giỗ để xin phép Thổ công cho hương hồn người được cúng giỗ về phối hưởng. Đồng thời cũng khấn xin Thổ công cho phép vong hồn nội ngoại gia tiên nhà mình cùng về dự giỗ. Vì ngoài việc mời hương hồn người được cúng giỗ sau tang cho người đã khuất, còn phải mời cả hương hồn nội ngoại, gia tiên về dự. Cũng trong ngày tiên thường, người đứng giỗ mang lễ ra mộ người được hưởng giỗ để mời vong hồn vị này về phối hưởng. Cũng nhân dịp này con cháu thường đắp lại mộ người đã khuất. Ngày tiên thường con cháu phải đến nhà người trưởng tộc để sửa soạn làm giỗ ngày hôm sau. Bàn thờ được dọn dẹp lau chùi từ buổi sáng để buổi chiều cúng cáo giỗ. Con cháu, những người nào phải gửi giỗ, đều mang đồ lễ tới nhà đứng giỗ trong ngày tiên thường. Xem thêm “Văn Khấn Lễ Âm Phần Long Mạch, Sơn Thần Thổ Phủ Nơi Mộ” Con cháu gửi giỗ Người chết thường có nhiều con cháu. Nhưng ngày giỗ chỉ cúng ở nhà người con trai trưởng. Nếu con trai trưởng chết thì giao cho người cháu đích tôn. Tuy nhiên, những người con thứ, cháu thứ, cháu ngoại không thể bỏ giỗ cha mẹ, ông bà mình được. Ngày giỗ, những người này đều phải tề tựu ở nhà người trưởng chi họ để làm giỗ. Họ phải có đồ lễ mang tới cúng. Việc mang đồ lễ tới nhà trưởng tộc như vậy gọi là gửi giỗ hay góp giỗ. Lễ gửi giỗ trọng hay mọn tùy theo khả năng tài chính của người sống hay theo sự liên hệ giữa người sống với người chết. Gửi giỗ thường bằng tiền, kèm theo đồ lễ đáng giá cả con lợn, cặp gà hay yến gạo nếp, có người trong khi gửi giỗ lại lựa mua thứ gì người chết sin h thời ưa thích. Người ở xa, ngày giỗ không về được, cũng cố mua đồ lễ để gửi về nhà người trưởng. Những người này, ngoài việc gửi còn làm lễ cúng vọng trong ngày giỗ. Câu “con đâu cha mẹ đấy” là ý nói con cái cúng giỗ ở đâu thì hương hồn cha mẹ về đó phối hưởng. Có nhiều trường hợp, người trưởng chi họ không nhận đồ lễ gửi giỗ của một người nào đó vì họ bất kính hoặc cậy của. Những đồ lễ do các ngành thứ mang gửi giỗ, người trưởng đều phải đem sử dụng hết trong ngày giỗ. Cúng xong, ăn không hết, người trưởng tộc sẽ chia phần cho con cháu đem về. Ngày giỗ chính Ý nghĩa ngày giỗ chính Ngày giỗ chính là ngày kỷ niệm người chết đã qua đời, thường được gọi là kỵ nhật. Đây là điều quan trọng nhất trong sự thờ phụng tổ tiên. Trong ngày giỗ, người ta làm cỗ bàn mời thân bằng quyến thuộc. Ở thôn quê, ngày giỗ là một dịp để gia chủ được mời lại những người đã từng mời mình đi ăn uống. Giỗ có thể làm to hoặc làm nhỏ, tùy theo gia cảnh, tùy theo con cháu đông hay vắng và nhiều khi lại tùy theo tình cảm giữa người sống với người chết. Thường thường thì giỗ cha mẹ làm to, rồi trở lên mỗi đời mỗi xa thì kém đi. Giỗ các cụ, kỵ xa đời cũng như giỗ những người không thuộc hàng quan trọng trong gia đình, thường làm đơn giản, không mời mọc ai giỗ giúi. Nhà trưởng một ngành họ, hàng năm phải làm nhiều giỗ cha mẹ, ông bà, cụ kỵ. Và có khi những ông chú ông bác xa đời, tất cả những người đã gửi giỗ để ruộng đất lấy hoa lợi làm giỗ; lại còn bà Cô, ông Mãnh. Có tháng hai ba cái giỗ. Giỗ không được coi là trọng thì cúng cơm canh, ý nói làm giản dị không bày đặt cỗ bàn. Cách thực hiện lễ giỗ Sau khi bày cỗ bàn, thắp hương, gia chủ khăn áo chỉnh tề bước vào chiếu trải trước bàn thờ, chuẩn bị lễ. Gia chủ đứng thẳng, chắp hai tay giơ cao lên ngang trán, cong mình cúi xuống, đặt hai tay vẫn chắp xuống chiếu. Quỳ gối bên phải rồi gối bên trái xuống chiếu, cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay đang chắp thế phủ phục. Sau đó cất đầu và mình thẳng lên, đồng thời co hai tay vẫn chắp lên trước ngực, co đầu gối bên phải lên, đặt bàn chân phải lên chiếu để sửa soạn đứng dậy, hai bàn tay vẫn chắp xuống tì vào đầu gối bên phải mà đứng lên. Đọc thêm bài viết “Các Lễ Theo Phong Tục Trong Thời Kỳ Tang Chế” Lời khấn Nước … năm … tháng … ngày … tỉnh … huyện … phố … phường … số nhà … … là con cháu của … cùng vợ, con và cả gia đình thành khẩn kính dâng kể tên những thứ đem cúng lên … tên húy, tên thụy, tên hiệu …, mất … Hôm nay là ngày giỗ, xin kính dâng lễ bạc, mời … soi xét lòng thành, phù hộ cho con cháu … Kính mời ông bà bốn đời, ba đời … tên cùng … về hưởng lễ cúng. Lúc khấn, khi nhắc đến tên người đã mất, phải hạ thấp giọng mỗi lần đọc tên lại cúi đầu vái một cái. Mời khách dự cỗ lễ giỗ chính Mời ăn cỗ giỗ cũng có hẹn giờ, thường là vào khoảng từ mười một giờ trưa trở ra. Những khách khứa tới ăn giỗ có mang đồ lễ để cúng người khuất, thường là vàng hương, trầu rượu, trà nến, hoa quả. Con cháu khi khách tới phải đón đồ lễ đặt trên bàn thờ trước khi khách làm lễ cúng. Khách sẽ lễ trước bàn thờ bốn lạy ba vái. Gia chủ phải tự bản thân hoặc cử đại diện đứng đáp lễ. Lễ bàn thờ xong, khách quay sang vái người đáp lễ. Sau khi khách đã ăn trầu uống nước, người nhà mời khách dự cỗ. Một mâm cỗ dùng cho bốn người. Mỗi lần đủ bốn người khách, chủ nhà dọn một mâm mời cỗ. Nhưng khách đàn bà ngồi riêng, đàn ông ngồi riêng, người nhiều tuổi với người nhiều tuổi. Ngoài ra, chủ nhà lại phải lựa những người cùng địa vị hoặc địa vị xấp xỉ như nhau để mời vào một mâm. Hương đèn trên bàn thờ luôn luôn thắp sáng để khách khứa tới lễ. Khi khách đã vãn, gia chủ mới cúng thêm tuần rượu nữa rồi lễ tạ, hóa vàng. Đốt mã hóa vàng Hóa vàng tức là đem đốt những vàng mã của con cháu gửi giỗ hoặc khách khứa mang tới. Phải kể cả những tấm hàng, những cuộn giấy đủ màu, tượng trưng cho những tấm vải, con cháu đã mua cúng trong ngày giỗ, cũng được hóa cùng với vàng mã. Cho đến khi hóa vàng, ngày giỗ mới kể là xong. Lúc hóa vàng, con cháu đổ vào đống lửa một chén rượu cúng, chén rượu này cốt để biến những vàng mã giấy trên dương gian thành vàng thật, đồ dùng thật dưới âm phủ. Người ta còn thường hơ một chiếc đòn gánh hoặc một chiếc gậy trên ngọn lửa hóa vàng có ý rằng các cụ sẽ dùng chiếc đòn gánh hoặc chiếc gậy này để gánh vàng mã về cõi âm. Sau khi hóa vàng, hương đèn trên bàn thờ không cần giữ cháy nữa. Đọc thêm bài viết về “Những Lễ Nghi Kiêng Kị Trong Việc Cúng Gia Tiên” Văn khấn cúng giỗ Trong ngày giỗ, khi mâm cơm thịnh soạn đã được đặt lên, con cháu phải khấn mời để tổ tiên phối hưởng những lễ vật dâng lên. Người Việt vốn xưa nay trọng lễ nghi, mọi trường hợp cúng bái đều có văn khấn riêng. Ngày nay, Hán tự không còn thịnh, khấn giỗ người ta thường khấn Nôm. Khi khấn đến tên người chết, phải khấn lâm râm rất khẽ trong miệng để tỏ lòng thành kính. Cần khấn hết tên tục, tên hiệu, tên hèm của người hưởng giỗ. Tên tục là tên lúc sống vẫn gọi, tên hiệu tức là biệt hiệu, còn tên hèm tức là tên phụng – tên khi người hấp hối tự đặt cho mình để sau này con cháu khi cúng thì khấn tới. Con cháu lúc khấn giỗ cần phân biệt các hàng kỵ, cụ, ông bà, cha mẹ. Đàn ông khấn chữ “Khảo” còn đàn bà khấn chữ “Tỷ”. Cao tằng tổ khào tức là kỵ ông, đối với người khấn là năm đời chút. Cao tằng tổ tỷ tức là kỵ bà. Tằng tổ khảo tức là cụ ông, tằng tổ tỷ tức là cụ bà, đối với người khấn là bốn đời chắt. Tổ khảo tức là ông, tổ tỷ tức là bà, đối với người khấn là ba đời cháu. Hiền khảo tức là cha, hiền tỷ tức là mẹ. Kể từ đời thứ sáu chít trở đi, con cháu không phải cúng giỗ nữa. Trong ngày giỗ, sau khi khấn giỗ xong, phải buông y môn xuống để các cụ hưởng lễ. Văn mấu giỗ cha mẹ Năm … tháng … ngày … con là …, vì nay là ngày kỵ, lễ bạc lòng thành kính dâng hiền khảo hiền tỷ phủ quân mẹ là phụ nhân trước bàn thờ rằngCông sinh thành như núi Thái SơnNgày húy kỵ xin dâng lễ vậtXin linh hồn chứng giám, hộ con cháu bình yên Cẩn cáo. Văn khấn giỗ vợ Năm … tháng … ngày … ái phụ là … hôm nay ngày … gọi chút xót thương, nhờ đến nội trợ … trước bàn thờ thanh rằng Tình nghĩa vợ chồng, âm dương xa cáchTừ khi khuất mặt cõi trần, những tưởng chút lòng ân áiĐã dành sinh ký tử quy, vẫn nhớ lời ăn tiếng qua ngày tháng, việc cúng hôm nay, linh hồn có linh thiêng, thấu tình một chút, hộ chồng con mạnh khỏe luôn luôn, coi nhà cửa bình yên mãi mãi. Tâm hưởng. Cúng giỗ sau tang ở chùa Có nhiều Phật tử ngày giỗ không cúng tại nhà mà lại làm giỗ ở chùa. Tại chùa, người ta cũng cúng khấn và mời bạn bè tới ăn cỗ chay. Công việc làm cỗ do nhà chùa lo liệu. Ngoài việc lễ bái, còn có các tăng tiểu đọc kinh siêu độ cho người đã khuất. Tục ta tin rằng, nếu người đã khuất lúc sinh thời có làm điều lỗi lầm, thì những câu kinh tụng niệm trong ngày này có thể làm giảm bớt tội lỗi. Giỗ họ Nhiều gia đình họp thành một ngành, nhiều ngành họp thành một họ. Mỗi họ có một ông tổ chung. Ngày giỗ ông tổ gọi là ngày giỗ họ hoặc giỗ tổ. Người trưởng tộc lo việc làm giỗ, nhưng tất cả các ngành trong họ đều phải đóng góp. Theo luật tục, trưởng tộc được hưởng của hương hỏa của tổ tiên để lại. Và của hương hỏa không được bán, phải để gây hoa lợi dùng cho việc tế tự và cúng giỗ sau tang. Dẫu có của hương hỏa, nhưng ngày giỗ tổ, các hàng con cháu đều góp giỗ. Ngày giỗ tổ, trưởng các ngành chi họ đều có mặt ở nhà thờ họ. Vào ngày này, các họ lớn có mời phường bát âm tới tế lễ. Về số tiền cúng để góp giỗ, thường tính theo đầu đàn ông trên 18 tuổi, còn đàn bà và trẻ con được miễn. Có nhiều họ, con gái không được dự giỗ, vì con gái khi lấy chồng sẽ thuộc họ khác, con dâu được tới dự giỗ. Ngày giỗ họ, không mời khách khứa, chỉ có con cháu trong họ cúng lễ và ăn uống với nhau. Có họ to nhân dịp ngày giỗ có mời phường chèo, phường múa rối tới múa hát cho con cháu xem. Giỗ hậu Nhiều người không có con trai cúng giỗ, cũng không lập tự vì không phải ngành trưởng. Và vì cũng nghĩ rằng, kẻ ăn thừa tự sau này vẫn có thể bỏ giỗ mình được. Nên sẵn tiền của, những người này đóng tiền hoặc mua ruộng nương cúng vào họ, vào chùa, vào đền, để về sau, khi họ qua đời, họ,chùa, đền sẽ cúng giỗ sau tang chế. Những giỗ cúng như vậy gọi là giỗ hậu. Tại nhiều làng, trong hương ước có ghi cả khoản mua hậu, nghĩa là người nào muốn sau này làng cúng giỗ phải bỏ tiền ra mua sự cúng giỗ đó với làng. Tiền mua hậu nộp vào quỹ làng để sắm thêm tự khí, mở đền đình hoặc dùng trong việc công ích khác. Những người mua hậu có thể phòng sẵn cả việc mai táng của mình, nhờ làng nước chùa chiền hoặc họ làm ma. Trong những ngày giỗ hậu, tại nhà thờ họ, trưởng tộc cúng giỗ và có mời một số con cháu trong họ tới dự giỗ. Tại đình, các hương chức quan viên cúng giỗ, rồi cùng nhau chia phần hưởng lộc, ăn uống ngay tại đình hoặc mang về. Giỗ hậu cúng ở nơi nhà hậu, một căn nhà riêng tại các đình chùa dùng để làm giỗ hậu. Người khấn giỗ tại đình thường là ông thủ từ hoặc ông tiên chỉ. Trong ngày giỗ hậu, ngoài việc cúng người hưởng giỗ, dân làng cũng phải sửa lễ để cáo Thành hoàng. Tại chùa, việc khấn vái do một vị sư đảm nhiệm. Ở đây, trong ngày giỗ hậu có tụng kinh để cầu an cho vong hồn người khuất. Tìm hiểu thêm về “Các Lễ Cúng Giỗ Trong Thời Kỳ Tang Chế” Lễ tục Lập Tự để thực hiện cúng giỗ sau tang Ý nghĩa của việc Lập Tự Dân ta tin rằng, khi cúng lễ phải do người đồng khí huyết với người khuất khấn vái hương hồn, người khuất mới có thể phối hưởng được. Chính vì muốn có người giữ việc hương khói thờ phụng tổ tiên nên dân ta có tục phải lo sao cho có con trai để lập tự. Lập tự trước hết phải lập con vợ cả, trừ trường hợp vợ cả đã quá năm mươi tuổi không có con trai, mới lập con vợ lẽ. Nếu tất cả vợ chính, vợ thứ đều không có con, phải chọn một người cháu gọi bằng chú hay bằng bác. Không có cháu gần thì lập cháu xa để giữ việc thừa tự cho mình. Lập tự phải thứ tự “chiêu mục”, nghĩa là người được hưởng thừa tự cho người trên, như cháu thừa tự cho chú bác, em thừa tự cho anh, chứ không làm ngược lại. Người được lập thừa tự nếu là con nuôi người lập thì phải ăn ở với cha mẹ nuôi như với cha mẹ đẻ, phải thực hiện mọi bổn phận của người con đẻ, không được tự ý bỏ cha mẹ nuôi về nhà cha mẹ mình. Những trường hợp không được Lập Tự Tuy người thừa tự đã lập rồi, nhưng nếu tính hạnh xấu xa, vẫn có thể bỏ đi để lập người khác, gọi là lập hiền hay lập ái. Trong khi lập tự, không được dùng con đinh hoặc con trưởng, vì những người này còn phải giữ việc khói hương của chính cha mẹ đẻ. Trong trường hợp cha mẹ nuôi sau khi đã lập tự mới sinh được con trai, người được lập tự có thể về ở với cha mẹ đẻ của mình, hay có thể cứ ở lại với cha mẹ nuôi, sẽ được hưởng một phần gia tài và có đủ mọi quyền lợi như con đẻ. Người đàn ông không có con, không lập tự lúc sống. Lúc người chồng chết rồi, người vợ có bổn phận thỏa thuận với tộc trưởng để lập tự lấy người cúng giỗ sau tang cho chồng và gia tiên nhà chồng. Những người đã hỏi vợ nhưng chưa cưới, hay mới cưới nhưng chưa có con mà chẳng may chết sớm, thì cha mẹ lập tự cho con, nhưng với điều kiện con đã đến tuổi trưởng thành rồi. Những người chết yểu chưa trưởng thành không được lập tự. Ngày nay, tại nhiều gia đình không có con trai, con gái thường cúng giỗ sau tang cha mẹ. Hoặc cũng có khi cháu ngoại cúng giỗ ông bà. Dân gian có câu “vô nam dụng nữ, vô tử dụng tôn” nghĩa là không có con tai thì dùng con gái, không có con thì dùng cháu Cúng giỗ những người mất tích Có nhiều người vì sinh kế hoặc vì một lý do nào đó, bỏ nhà ra đi rồi không trở về, không có tin tức cho gia đình biết; có người bị giặc bắt không tha hay có người đi trận bỏ mạng. Tất cả những người trên đối với gia đình đều coi như mất tích. Và mất tích tức là chết. gia đình những người này tuy không làm ma, không để tang, nhưng hàng năm thường có cúng giỗ. Vì không biết đích xác ngày chết của người mất tích, nên gia đình người này lấy ngày họ ra đi để cúng giỗ. Có nhiều nhà lại xin với nhà chùa cầu kinh siêu độ cho vong hồn của họ. Hài nhi yểu vong với ngày cúng giỗ sau tang Thường tục ta lấy tuổi lên ba là tuổi hiểu biết. Những trẻ chết dưới tuổi này, người ta cho rằng đó chỉ là những đứa trẻ lộn kiếp, nhất là những trẻ sơ sinh. Đối với những trẻ sinh ra được ít lâu sau mới chết, người ta còn tin rằng, cha mẹ chúng kiếp trước có nợ chúng nên kiếp này chúng đầu thai vào để đòi đủ số nợ lại ra đi. Nợ hết là chết, nên đối với những trẻ hài nhi này, sự cúng giỗ sau tang không cần. Nhưng nhiều gia đình hiếm muộn thương con, dù chúng chết yểu dưới tuổi hiểu biết, tới ngày giỗ, họ vẫn cúng để chúng khỏi trở thành những con ma đói ma khát. HỎI Đến những ngày giỗ ông bà cha mẹ, nếu không đủ duyên hay không có điều kiện mời chư Tăng Ni thì con cháu có thể tụng kinh tại nhà được không? Và nên tụng kinh nào là phù hợp? Nghi thức ra sao? NGỌC ANH, ĐÁP Bạn Ngọc Anh thân mến! Đến ngày giỗ ông bà cha mẹ mà không đủ duyên hay không có điều kiện mời chư Tăng Ni tụng kinh siêu độ thì con cháu trong nhà nên tụng kinh để cầu nguyện, báo hiếu. Thường thì vào đêm trước ngày giỗ, sau khi sắm lễ hương đèn hoa quả dâng cúng Phật và gia tiên, con cháu tập trung trước bàn thờ Phật tụng một biến kinh A Di Đà, theo như những chỉ dẫn của Nghi thức Cầu siêu trong kinh Nhật tụng. Bạn nên chọn kinh Nhật tụng tiếng Việt tránh âm Hán-Việt để vừa trì tụng và có thể hiểu nghĩa lý trong kinh. Sang ngày hôm sau, đúng ngày giỗ, vào buổi trưa hoặc buổi tối, bạn sắm một mâm cỗ chay dâng cúng hương linh. Lễ phẩm thì tùy tâm, cốt là “lễ bạc mà lòng thành”, nên hạn chế đến thấp nhất rượu bia, vàng mã. Nếu không thuộc văn cúng, bạn có thể thành tâm khấn nguyện, rót nước, lễ lạy trước bàn thờ gia tiên thỉnh cầu chư hương linh thọ dụng, chứng minh cho sự hiếu thảo của con cháu là được. Nếu bạn có thời gian thì trong ngày giỗ, tổ chức tụng kinh cầu siêu trước, kế đến cúng giỗ cùng trong một ngày lại càng hay. Chúc bạn tinh tấn! Chú Thích Khi bạn đọc đến tên thánh là tên thánh của linh hồn bạn đang cầu nguyện. Nếu đám giỗ cho hai ông bà thì dùng chữ “và” ở giữa, ví dụ Anrê và Đầu, mọi người tập hợp, thinh lặng và làm Dấu Thánh Giá. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen!Đọc Kinh Đức Chúa Thánh Thần Chúng con lạy ơn ức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng, chúng con xin ức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng chúng con, là kẻ tin cậy ức Chúa Trời, và đốt lửa kính mến ức Chúa Trời trong lòng chúng con; Chúng con xin ức Chúa Trời cho ức Chúa Thánh Thần xuống. Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con. Chúng con cầu cùng ức Chúa Trời, xưa đã cho ức Chúa Thánh Thần xuống, soi lòng dậy dỗ các Thánh Tông ồ, thì rày chúng con cũng xin ức Chúa Trời cho ức Chúa Thánh Thần lại xuống, an ủi dậy dỗ chúng con làm những việc lành, vì công nghiệp vô cùng ức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Tin Lạy Chúa con, con tin thật có một Đức Chúa Trời, là đấng thưởng phạt vô cùng. Con lại tin thật Đức Chúa Trời có Ba Ngôi, mà Ngôi Thứ Hai đã xuống thế làm người, chịu nạn chịu chết mà chuộc tội cho thiên hạ. Bấy nhiêu điều ấy cùng các điều Hội Thánh dạy, thì con tin vững vàng vì Chúa là Đấng thông minh, và chân thật vô cùng đã phán truyền cho Hội thánh. Cậy Lạy Chúa con, con trông cậy vững vàng, vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu, thì Chúa sẽ ban ơn cho con giữ đạo nên ở đời này, cho ngày sau được lên Thiên đàng, xem thấy mặt Đức Chúa Trời hưởng phúc đời đời, vì Chúa là Đấng phép tắc và lòng lành vô cùng, đã phán hứa sự ấy chẳng có lẽ nào sai được. Mến Lạy Chúa con, con kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự, vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng. Lại vì Chúa, thì con thương yêu người ta như mình con vậy. Chúa Giêsu Cực Khoan, Cực Nhân Lạy Chúa Giêsu cực khoan, cực nhân, chúng con là kẻ phàm hèn tội lỗi, chẳng đáng dâng lời cầu nguyện trước mặt Đức Chúa Cha, song vì Chúa đã phán rằng Bay lấy danh Ta mà cầu xin sự gì cùng Đức Chúa Cha, thì Người sẽ ban cho sự ấy. Nên chúng con mới dám nương nhờ công nghiệp cực trọng Năm Dấu Thánh Đức Chúa Giêsu, mà dâng lời cùng Đức Chúa Cha. Xin Đức Chúa Cha nhận lời mà tha bớt phần phạt cho linh hồn tên thánh mau ra khỏi nơi khốn khó, mà về nhà Thiên Đàng hưởng phúc trọng vô cùng. Amen.Kinh Ăn Năn Tội Lạy Chúa con, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng. Chúa đã dựng nên con, mà cho con Chúa ra đời, chịu nạn chịu chết vì con; mà con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa. Thì con lo buồn đau đớn, cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự. Con dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn Chúa thì con sẽ lánh xa dịp tội, cùng làm việc đền tội cho xứng. Lần Hạt Năm Dấu Thánh Đức Chúa GiêsuThứ Nhất thì ngắm Khi quân dữ bắt chân tả Đức Chúa Giêsu vào Thánh giá, mà lấy đinh sắt đóng vào đau lắm, máu chảy xuống ròng ròng. Khi ngắm sự ấy thì nguyện 5 kinh Lạy Cha, lạy ơn Đức Chúa Giêsu chịu đóng đinh chân tả vì chúng con bởi đi đàng trái; cùng nguyện một kinh Kính Mừng, thương Đức Mẹ đau đớn trong lòng, như phải đóng đinh vậy. Xin cho chúng con chừa đi đàng trái, ấy là chớ làm tội lỗi nữa. 5 Kinh Lạy ChaChúng con cậy vì danh Chúa nhân từ cho linh hồn tên thánh được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. 1 Kinh Kính MừngThứ Hai thì ngắm Khi quân dữ bắt chân hữu Đức Chúa Giêsu vào Thánh giá, mà đóng đinh nơi có gân cùng mạch máu nhiều, cho nên cả và mình Đức Chúa Giêsu phải khốn. Khi ngắm sự ấy thì nguyện 5 kinh Lạy Cha, lạy ơn Đức Chúa Giêsu xưa ở thế gian ba mươi ba năm, mỏi chân đi dạy dỗ chúng con mà chúng con lạy lấy đinh đóng chân cho; cùng nguyện 1 kinh Kính Mừng, thương Đức Mẹ phải khốn cùng con. Xin cho chúng con hằng đi đàng ngay thật, là đẹp lòng Đức Chúa Trời luôn. 5 Kinh Lạy ChaChúng con cậy vì danh Chúa nhân từ cho linh hồn tên thánh được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. 1 Kinh Kính MừngThứ Ba thì ngắm Khi quân dữ bắt tay tả Đức Chúa Giêsu vào Thánh giá mà lấy búa sắt đóng đinh đau lắm, bởi cả mình Đức Chúa Giêsu nặng thì lỗ tay liền xé ra, càng thêm đau đớn hơn nữa. Khi ngắm sự ấy thì nguyện 5 kinh Lạy Cha, lạy ơn Cha Cả chẳng tiếc mình vì con dữ là chúng con; cùng nguyện 1 kinh Kính Mừng, thương Đức Mẹ phải đau đớn cùng Con. Xin cho chúng con chừa sự chẳng nên, cho ngày sau khỏi bên tả Đức Chúa Giêsu, là bên kẻ phải sa hoả ngục. Amen.Đọc 5 Kinh Lạy ChaChúng con cậy vì danh Chúa nhân từ cho linh hồn tên thánh được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. 1 Kinh Kính MừngThứ Bốn thì ngắm Khi quân dữ bắt tay hữu Đức Chúa Giêsu vào Thánh giá, mà bởi chẳng đến lỗ nó làm đã sẵn, thì nó buộc cổ tay kéo ra cho đến nơi, liền giãn xương ngực ra cho nên đau đớn lắm, thì mới đóng đinh vào. Khi ngắm sự ấy thì nguyện 5 kinh Lạy Cha, thương Đức Chúa Giêsu lấy tay làm những sự lành cho thiên hạ, mà người ta lại trả công cho làm vậy; cùng nguyện 1 kinh Kính Mừng, thương Đức Mẹ bởi yêu con hơn mình, thì thương xót con lắm. Xin cho chúng con làm việc phúc đức, cho ngày sau được ở bên hữu Đức Chúa Giêsu là bên kẻ đáng lên Thiên đàng. 5 Kinh Lạy ChaChúng con cậy vì danh Chúa nhân từ cho linh hồn tên thánh được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. 1 Kinh Kính MừngThứ Năm thì ngắm Khi Đức Chúa Giêsu đã sinh thì, có một người các quan lấy đòng mà đâm cạnh nương long Đức Chúa Giêsu phải trái tim, máu cùng nước chảy ra; song le Đức Chúa Giêsu chẳng đau đớn gì vì đã sinh thì, nhưng Đức Mẹ đau đớn lắm như phải dao sắc thâu qua trái tim vậy. Khi ngắm sự ấy thì nguyện 5 kinh Lạy Cha, đội ơn Đức Chúa Giêsu đã lấy hết máu trong trái tim đổ ra cho chúng con; cùng nguyện 1 kinh Kính Mừng thương Đức Mẹ phải đau đớn như phải dao sắc thâu qua lòng vậy. Xin cho chúng con chớ yêu sự thế gian, mà bỏ nghĩa Đức Chúa Giêsu yêu dấu chúng con cho nên chịu chết làm vậy. 5 Kinh Lạy ChaChúng con cậy vì danh Chúa nhân từ cho linh hồn tên thánh được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. 1 Kinh Kính MừngThứ Sáu thì nguyện Ba kinh Lạy Cha, kính lạy đinh sắt thâu qua chân tay Đức Chúa Giêsu, cùng nguyện 1 kinh Lạy Cha kính lạy lưỡi đòng thâu qua cạnh nương long Đức Chúa Giêsu; cùng nguyện 1 kinh Lạy Cha kính lạy Thánh giá là giường Cha Cả muôn vật nằm khi sinh thì. Xin Đức Chúa Giêsu lấy Thánh giá, đanh sắt, lưỡi đòng như chìa khoá mở cửa Thiên đàng cho linh hồn tên thánh được vào. Amen.Đọc 5 kinh Lạy Nguyện Chúng con lạy ơn Đức Chúa Giêsu cùng rất thánh Đức Bà, chúng con dâng bấy nhiêu kinh nguyện này, nhớ đến những sự thương khó Đức Chúa Giêsu đã chịu vì chúng con. Chớ gì chúng con có ngày nào được chịu sự gì khó vì Đức Chúa Giêsu làm chứng có lòng kính mến Cha Cả trên hết mọi sự; song chúng con là kẻ yếu sức cậy trông rất thánh Đức Bà thêm sức cho chúng con được lòng giữ đạo cho trọn, cùng xưng tên Đức Chúa Giêsu ra trước mặt thiên hạ. Cầu Chịu Nạn Xin Chúa thương xót chúng con. Đáp Thương xót linh hồn tên thánh . câu nào cũng đáp như vậy Xin Chúa thương xót chúng con. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con. Chúa Giêsu nghe cho chúng con. Chúa Giêsu nhận lời chúng con. Đức Chúa Cha ngự trên trời là Đức Chúa Trời thật. Đức Chúa Con chuộc tội cứu thế là Đức Chúa Trời thật. Đức Chúa Thánh Thần là Đức Chúa Trời thật. Ba Ngôi cũng là một Đức Chúa Trời. Chúa Giêsu thương hết người thế. Chúa Giêsu xuống thế làm người. Chúa Giêsu ba mươi năm ở cùng Đức Mẹ. Chúa Giêsu ba năm giảng dạy nước Giudêu. Chúa Giêsu cứu kẻ liệt kẻ khốn. Chúa Giêsu cho Thánh Lazarô chết bốn ngày sống lại. Chúa Giêsu để thằng Giuđa làm mối cho quân dữ bắt. Chúa Giêsu quân Giudêu ra rước mừng hát. Chúa Giêsu thương thành Giêrusalem chảy nước mắt ra. Chúa Giêsu rửa chân cho các đầy tớ. Chúa Giêsu truyền phép Thánh thể nuôi lấy linh hồn chúng con. Chúa Giêsu vào vườn Giệtsimani mà nguyện cùng Đức Chúa Cha. Chúa Giêsu lo buồn vì thương hết người thế. Chúa Giêsu mồ hôi máu chảy ra nhỏ xuống đất. Chúa Giêsu ra rước quân dữ phó mình cho nó. Chúa Giêsu cho quân ấy buộc trói mình. Chúa Giêsu các đầy tớ bỏ trốn ra hết. Chúa Giêsu Thánh Phêrô một đêm chối ba lần. Chúa Giêsu soi lòng Thánh Phêrô ăn năn khóc lóc. Chúa Giêsu chịu vả trước mặt Thiên hạ. Chúa Giêsu chịu bỏ vạ cáo gian. Chúa Giêsu thầy cả Giudêu mắng rằng “đáng phải giết”. Chúa Giêsu thâu đêm chịu những sự khốn nạn. Chúa Giêsu quân dữ nộp cho quan Philatô đôi xét. Chúa Giêsu Philatô nộp cho vua Erođe. Chúa Giêsu Erođe chê rằng dại dột. Chúa Giêsu quân Giudêu ghét hơn thằng dữ là Baraba. Chúa Giêsu chịu đòn đánh nát hết cả và mình. Chúa Giêsu chịu những gai nhọn thâu vào đầu. Chúa Giêsu quân dữ quì nhạo cho xấu hổ. Chúa Giêsu Philatô đem ra cho dân thấy mà thương. Chúa Giêsu dân Giudêu kêu xin đóng đanh vác Thánh Giá. Chúa Giêsu Philatô phó cho quân dữ đem đi giết. Chúa Giêsu chịu vác Thánh giá nặng lắm. Chúa Giêsu chịu đóng đanh chân tay vào Thánh giá. Chúa Giêsu chịu nạn cùng hai kẻ gian dữ. Chúa Giêsu xin Đức Chúa Cha tha tội cho kẻ làm khốn mình. Chúa Giêsu chịu các quan lấy hết áo chia nhau. Chúa Giêsu còn trên Thánh giá chịu thiên hạ nhạo cười. Chúa Giêsu tha tội cho một kẻ trộm phải đóng đanh cùng. Chúa Giêsu trối Đức Mẹ cho ông Thánh Gioan. Chúa Giêsu phó ông Thánh Gioan cho Đức Mẹ. Chúa Giêsu nửa ngày cất sáng mặt trời tối hết thiên hạ. Chúa Giêsu than thở cùng Đức Chúa Cha. Chúa Giêsu phán rằng “khát nước”. Chúa Giêsu phán rằng “đã đoạn, ấy là hết việc chuộc tội cho thiên hạ”. Chúa Giêsu rằng “Con phó linh hồn ở tay Đức Chúa Cha”. Chúa Giêsu chảy hết máu mình ra. Chúa Giêsu chịu chết vì tội thiên hạ. Chúa Giêsu xuống ngục tổ tông yên ủi các Thánh. Chúa Giêsu Thiên sầu, điạ thảm. Chúa Giêsu quan tướng quân xưng ra là con Đức Chúa Trời. Chúa Giêsu quân dữ đâm mình máu cùng nước chảy ra. Chúa Giêsu đầy tớ táng trong hang đá. Chúa Giêsu ngày thứ ba sống lại đem các Thánh lên. Chúa Giêsu sống lại trước hết đi viếng Đức Mẹ. Chúa Giêsu cho Thánh Tôma xem Năm Dấu Thánh mình. Chúa Giêsu truyền cho Thánh Phêrô cai Hội thánh. Chúa Giêsu phán các đầy tớ đi khắp thế giảng đạo. Chúa Giêsu trước mặt thiên hạ lên trời. Chúa Giêsu hết đời lại xuống phán Giêsu hằng có lòng lành. Đáp Chúa Giêsu tha tội linh hồn tên thánh . Chúa Giêsu hằng có lòng lành. Đáp Chúa Giêsu nghe linh hồn tên thánh . Kẻo gặp tai sự dữ. Đáp Chúa Giêsu chữa linh hồn tên thánh . Kẻo bất nghĩa cùng Chúa Giêsu. Đáp Chúa Giêsu chữa linh hồn tên thánh . Kẻo phạm tội nghe ma qủi cám dỗ. Đáp Chúa Giêsu chữa linh hồn tên thánh . Kẻo chối đạo Đức Chúa Giêsu. Đáp Chúa Giêsu chữa linh hồn tên thánh . Kẻo sa hỏa ngục chẳng được công Đức Chúa Giêsu chuộc cho. Đáp Chúa Giêsu chữa linh hồn tên thánh . Chúng con là kẻ có tội. Đáp Chúa Giêsu tha tội linh hồn tên thánh .Chúa Giêsu cho chúng con ăn năn tội chừa mọi sự dữ. Đáp Cầu Chúa Giêsu nghe linh hồn tên thánh . các câu kế tiếp đều đáp như vậy Chúa Giêsu cho chúng con kính mến trên hết mọi sự. Chúa Giêsu cho chúng con cậy trông vì đã chuộc tội chúng con. Chúa Giêsu mở lòng thiên hạ kính thờ cho nên. Chúa Giêsu các nước tin đạo cho bền càng ngày càng thịnh. Chúa Giêsu cho chúng con khi mong lìa xác khỏi chước ma qủi. Chúa Giêsu cho chúng con được phần phúc ở trên Giêsu chuộc tội cứu thế. Đáp Chúa Giêsu tha tội linh hồn tên thánh . Chúa Giêsu chuộc tội cứu thế. Đáp Chúa Giêsu nhận lời linh hồn tên thánh . Chúa Giêsu chuộc tội cứu thế. Đáp Chúa Giêsu thương xót linh hồn tên thánh .Lời Nguyện, Kinh Cầu Chịu Nạn Chúng con là vật mọn mà cả lòng lạy Đức Chúa Giê-su cực cao trọng; chúng con nhớ đến những sự thương khó Đức Chúa Giê-su xưa chịu ba mươi ba năm vì chúng con, thì trong lòng thảm thiết đau đớn, nào có khi nào trả nghĩa Đức Chúa Giê-su cho nên. Thuở xưa khi Đức Chúa Giê-su chịu nạn thì trời đất động địa, núi non là đá vỡ ra tan tác như thương Chúa sinh nên muôn vật, phương chi chúng con mà chẳng thương Cha Cả thì sao? Ấy máu Thánh Cha đã chảy ra hết vì con dữ là chúng con, mà con thấy Cha thương dường ấy, chẳng có khi đừng nước mắt chảy ra ăn năn tội lỗi vì đã phạm cùng Đức Chúa Cha. Ấy thật bởi tội chúng con cho nên Đức Chúa Giê-su xuống thế liều mình chịu đóng đanh chịu chết làm vậy. Chúng con hằng kính mến Đức Chúa Giê-su mà tích năm dấu thánh ở trong lòng chúng con lạy dấu thánh chân tả, Đáp vì tội linh hồn tên thánh . Chúng con lạy dấu thánh chân hữu, Đáp vì tội linh hồn tên thánh . Chúng con lạy dấu thánh tay tả, Đáp vì tội linh hồn tên thánh . Chúng con lạy dấu thánh tay hữu, Đáp vì tội linh hồn tên thánh . Chúng con lạy dấu thánh cạnh nương long Đức Chúa Giê-su. Đáp vì tội linh hồn tên thánh .Kinh Bởi Lời Lạy ức Chúa Giêsu xưa bởi Lời mà xuống thế gian, 33 năm cùng chịu những sự thương khó cho các linh hồn được rỗi. Thì rày chúng con xin Cha rất nhân lành hay thương vô cùng, xin tha phần phạt cho hinh hồn tên thánh đã cầu nguyện hôm nay, hoặc còn giam nơi lửa luyện tội thì xin mở cửa tù rạc ấy cho ra mà đem đến chốn hưởng vui thật là nước thiên đàng vì công nghiệp Chúa con đã chịu nạn chịu chết vì chúng con. Vực Sâu Lạy Chúa con, con ở dưới vực sâu kêu lên Chúa con, xin Chúa con hãy thương nhận lời con kêu van; hãy lắng nghe tiếng con cầu xin. Nếu Chúa tôi chấp tội nào ai rỗi được? Bởi Chúa tôi hằng có lòng lành, cùng vì lời Chúa con phán hứa. Con đã trông cậy Chúa con. Linh hồn con cậy vì lời hứa ấy, vì đã trông cậy Chúa con. Những kẻ làm dân Đức Chúa Trời đêm ngày hãy trông cậy Người cho liên. Vì Người rất nhân lành hay thương vô cùng, sẽ tha hết tội lỗi kẻ làm dân Người thay thảy. Lạy Chúa con xin ban cho linh hồn tên thánh được nghỉ ngơi đời đời và được sáng soi vô cùng. Lạy Chúa con, xin cứu lấy linh hồn tên thánh cho khỏi tù ngục, mà được nghỉ yên. Cầu Xin Lạy ơn Đức Chúa Giêsu, Chúa con đã phán dạy rằng “Bay hãy xin thì bay sẽ được”. Vậy con xin Chúa con lòng lành vô cùng thương đến các Linh hồn nơi lửa luyện tội, xin Chúa con nghe lời con kêu van cho linh hồn Ông Bà, Cha Mẹ, Anh em; xin Chúa con mở cửa Thiên đàng cho các Linh hồn ấy vào; xin cho các Linh hồn ấy được sự sáng vô cùng hằng soi cho liên. Cám Ơn Con cám ơn Đức Chúa Trời là Chúa lòng lành vô cùng, chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời, mà lại sinh ra con cho con được làm người, cùng hằng gìn giữ con, hằng che chở con, lại cho Ngôi Hai xuống thế làm người, chuộc tội chịu chết trên cây Thánh giá vì con, lại cho con được đạo thánh Đức Chúa Trời, cùng chịu nhiều ơn nhiều phép Hội thánh nữa, và đã cho phần xác con ngày hôm nay được mọi sự lành, lại cứu lấy con kẻo phải chết tươi ăn năn tội chẳng kịp. Vậy các Thánh ở trên nước Thiên đàng cám ơn Đức Chúa Trời thể nào, thì con cũng hợp cùng các Thánh mà dâng cho Chúa con cùng cám ơn như vậy. Trông Cậy Chúng con trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê chớ bỏ lời chúng con nguyện, trong cơn gian nan thiếu thốn, Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng hằng chữa chúng con cho khỏi mọi sự dữ. rất thánh Trái tim Đức Chúa Giêsu. Đáp Thương xót chúng con. Lạy trái tim cực thanh cực tịnh Đức Bà Maria. Đáp Cầu cho chúng con. Lạy ông Thánh Giuse là bạn thanh sạch Đức Bà Maria. Đáp Cầu cho chúng con. Lạy Các Thánh tử đạo Việt Nam. Đáp Cầu cho chúng Thúc, làm Dấu Thánh Giá và hôn Thánh Giá Chúa với tâm hồn kính về bản PDF để print ra ở đây. HỎI Đến những ngày giỗ ông bà cha mẹ, nếu không đủ duyên hay không có điều kiện mời chư Tăng Ni thì con cháu có thể tụng kinh tại nhà được không? Và nên tụng kinh nào là phù hợp? Nghi thức ra sao? NGỌC ANH, ĐÁP Bạn Ngọc Anh thân mến! Đến ngày giỗ ông bà cha mẹ mà không đủ duyên hay không có điều kiện mời chư Tăng Ni tụng kinh siêu độ thì con cháu trong nhà nên tụng kinh để cầu nguyện, báo hiếu. Thường thì vào đêm trước ngày giỗ, sau khi sắm lễ hương đèn hoa quả dâng cúng Phật và gia tiên, con cháu tập trung trước bàn thờ Phật tụng một biến kinh A Di Đà, theo như những chỉ dẫn của Nghi thức Cầu siêu trong kinh Nhật tụng. Bạn nên chọn kinh Nhật tụng tiếng Việt tránh âm Hán-Việt để vừa trì tụng và có thể hiểu nghĩa lý trong kinh. Sang ngày hôm sau, đúng ngày giỗ, vào buổi trưa hoặc buổi tối, bạn sắm một mâm cỗ chay dâng cúng hương linh. Lễ phẩm thì tùy tâm, cốt là “lễ bạc mà lòng thành”, nên hạn chế đến thấp nhất rượu bia, vàng mã. Nếu không thuộc văn cúng, bạn có thể thành tâm khấn nguyện, rót nước, lễ lạy trước bàn thờ gia tiên thỉnh cầu chư hương linh thọ dụng, chứng minh cho sự hiếu thảo của con cháu là được. Nếu bạn có thời gian thì trong ngày giỗ, tổ chức tụng kinh cầu siêu trước, kế đến cúng giỗ cùng trong một ngày lại càng hay. Chúc bạn tinh tấn! GNO

tụng kinh ngày giỗ