tập tính của giun đất

Cho biết tập tính của giun đất về: + Sinh sản : Giun đất lưỡng tính. Hai con giun chập đầu vào nhau. Sinh sản hữu tính Phân của giun đất làm tăng tính chịu nước, tăng lượng mùn ᴠà các muối canхi, kali cho đất. Các môi trường đẩ chua haу kiềm thành môi trường đất trung tính. Giun đất là loài động ᴠật lưỡng tính không хương ѕống ᴠà có tập tính ѕống nơi tối, hễ gặp ѕáng Nội dung chuyển sang thanh bên ẩn Đầu 1 Hình thái và phát triển 2 Tập tính 3 Giác quan của côn trùng 4 Ngụy trang và tự vệ 5 Vai trò của côn trùng 6 Phân loại 7 Hóa thạch và tiến hóa 8 Quan hệ với con người 9 Các kỷ lục về côn trùng 10 Tham khảo Hiện/ẩn mục Tham khảo 10.1 Chú thích 11 Liên kết ngoài Toggle the table Phần lớn (khoảng 30 nghìn loài) giun tròn kí sinh ở động vật, thực vật và người. Riêng ở người, một số giun kí sinh phổ biến và nguy hiểm như: giun chỉ, giun móc câu, giun tóc, giun kim. Chúng đều kí sinh và gây ra các bệnh ở mức độ nguy hại khác nhau. Sau đây là một số Bài có đáp án. Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm sinh học 7 bài 15: Giun đất. Học sinh luyện tập bằng cách chọn đáp án của mình trong từng câu hỏi. Dưới cùng của bài trắc nghiệm, có phần xem kết quả để biết bài làm của mình. Kéo xuống dưới để bắt đầu. Câu 1: Vì Giun đất lưỡng tính. Khi sinh sản, hai con giun chập phần đầu vào nhau trao đổi tinh dịch (hình 15.6). Sau khi hai cơ thê ghép đôi tách nhau được 2, 3 ngày Xem chi tiết. Em hãy đánh số vào ô trống cho đúng thứ tự cách di chuyển của giun đất. Giải bài tập câu hỏi thảo luận Vay Tiền Cấp Tốc Online Cmnd. Giun đất sống trong đất ẩm ở ruộng, vườn, nương, rẫy, đất rừng. Giun đất thường chui lên mặt đất vào ban đêm để kiếm ăn hoặc sau các trận mưa lớn và kéo Hình dạng ngoài- Cơ thể dài, thuôn 2 Cơ thể phân thành nhiều đốt, mỗi đốt có vòng tơ, cơ đối xứng 2 Đầu có miệng, đuôi có lỗ hậu môn, đai sinh dục có 3 đốt, lỗ sinh dục cái ở mặt bụng đai sinh dục, lỗ sinh dục đực dưới lỗ sinh dục cái.671502. Di chuyển - Các bước di chuyển1. Giun chuẩn bị Thu mình làm phồng đoạn đầu, thun đoạn Dùng toàn thân và vòng tơ làm chỗ dựa, vươn đầu về phía Thu mình làm phồng đoạn đầu, thun đoạn đuôi.\\rightarrow\Nhờ sự chun dãn của cơ thể kết hợp các vòng tơ và tòan thân mà giun đất di chuyển được.671583. Cấu tạo trong* Hệ tiêu hóaCác cơ quan tiêu hóa có sự phân hóa rõ ràng, có thêm ruột tịt tiết enzim để tiêu hóa thức ăn trong ruột.\\rightarrow\Hệ tiêu hóa có sự phân hóa.* Hệ tuần hoànỞ giun đất xuất hiện thêm 3 loại mạch mới mạch vòng, mạch lưng, mạch bụng.\\rightarrow\ Xuất hiện hệ tuần hoàn kín.* Hệ thần kinhXuất hiện các hoạch và chuỗi hạch thần kinh.\\rightarrow\ Hệ thần kinh hình chuỗi Có khoang cơ thể chính Hệ tiêu hóa phân hóa rõ Hệ tuần hoàn kín, máu màu Hệ thần kinh kiểu chuỗi hạch.671574. Dinh dưỡng- Giun đất ăn vụn thực vật và mùn Sự tiêu hóa diễn ra trong hệ tiêu hóa, thức ăn hấp thụ qua thành ruột vào Thức ăn -> miệng -> hầu -> diều chứa thức ăn -> dạ dày nghiền nhỏ thức ăn -> ruột -> hậu Sự trao đổi khí hô hấp được thực hiện qua da -> mưa nhiều giun thường chui lên mặt đất vì nước ngập cơ thể sẽ làm chúng ngạt thở.67156671545. Sinh sảnGiun đất ghép đôi và đẻ trứng- Giun đất lưỡng tính, khi sinh sản chúng ghép đôi bằng cách chập đầu vào nhau trao đổi tinh Sau 2 – 3 ngày ghép đôi, đai sinh dục bong ra tuột về phía trước, nhận trứng va tinh dịch trên đường Khi tuột khỏi cơ thể, đai thắt hai đầu lại thành Trứng được thu tinh phát triển trong kén để thành giun non sau vài tuần.67159 Chi tiếtNgày cập nhật 2022-08-19 Phiên bản hiện tại Vùng Giun Đất và tham gia trận đấu của những con giun dũng cảm trong đấu trường rộng lớn!Nuôi giun của bạn tới mức lớn nhất và kiếm về danh hiệu vô địch. Và đừng quên, nhà vô địch phải nổi bật giữa đám đông. Hãy chọn diện mạo cho con giun của bạn trong tủ quần áo hoặc tự tạo thiết kế tuyệt vời một số chiến thuật để trở thành nhà vô địch ""đấu sĩ"", ""kẻ lừa gạt” hoặc là ""thợ xây"". Bạn sẽ là ai?Bất kể chiến thuật nào bạn chọn, có một quy tắc đơn giản cần nhớ nếu bạn va vào đối thủ — bạn sẽ thua! Nhưng nếu bạn có thể bao vây vòng quanh đối thủ, bạn sẽ không chỉ tiêu diệt được chúng mà còn lấy được tất cả những món ngon mà chúng kiếm ra còn có các phần thưởng khác nhau trong đấu trường giúp cải thiện chỉ số cho giun của bạn. Hãy sử dụng chúng khôn ngoan và chúng sẽ giúp bạn đạt được mục tiêu mong muốn! Chúc may mắn, chú giun nhỏ!Giả lập NoxPlayer đem đến trải nghiệm chơi game tuyệt vời nhất cho bạnHướng dẫn chơi Vùng Giun - Rắn phàm ăn trên PC cùng Giả lập NoxPlayer1Tải NoxPlayer trên máy tính của bạn2Chạy tệp cài đặt và hoàn tất cài đặt3Tìm kiếm Vùng Giun - Rắn phàm ăn trên NoxPlayer4Tải game từ Google Play5Nhấn vào biểu tượng game để khởi động game6Chơi Vùng Giun - Rắn phàm ăn trên máy tính mượt mà- ổn định với NoxPlayerPhương pháp đơn giảnCách 1 Nhấn vào "Tải về bản PC" để đồng thời tải về Giả lập NoxPlayer và File APK. Sau khi quá trình cài đặt hoàn tất, bạn hãy khởi động giả lập và bắt đầu những trải nghiệm thú 2: Nếu máy tính của bạn đã cài đặt sẵn Giả lập NoxPlayer, hãy nhấn "Tải APK", sau khi quá trình tải về hoàn tất, kéo thả File APK vào giả lập NoxPlayer, hệ thống sẽ tự động giải nén và cài đặt. Video đặc sắc của Vùng Giun - Rắn phàm ănMở Vùng Giun Đất và tham gia trận đấu của những con giun dũng cảm trong đấu trường rộng lớn! Trong hàng triệu năm, những con giun chỉ làm công việc ăn, thải ra phân và làm đất phì nhiêu, màu mỡ. Chính phân của loài giun đã cải thiện đất đai thành điều kiện thích hợp cho trồng trọt. Nếu không có loài giun trên Trái đất, những mảnh đất có lẽ vẫn khô cằn sỏi đá và cuộc sống của chúng ta hiện nay như thế nào thì thật khó có thể tưởng tượng ra. Cùng Đặng Gia Trang tìm hiểu rõ hơn về giun qua chủ đề “con giun đất có đặc điểm gì? Lợi ích của con giun đất” nhé. 1/ Tìm hiểu về con giun đất Đặc điểm con giun đất Tên gọi khác Thổ long, Địa long, Giun khoang, Trùn hổ, Khau dẫn, Khưu dẫn, Thổ thiện, Uyên thiện, Can địa long, Trùn đất. Tên khoa học Lumbricus Họ con giun đất danh pháp khoa học Megascolecidae con giun đất là loài động vật ruột khoang, sinh sống ở trong lòng đất, đặc biệt là ở những vùng đất xốp, mát mẻ và ẩm ướt. Trung bình, con giun đất dài khoảng 10 – 34cm, rộng từ 5 – 15mm, thân có màu nâu hồng hoặc nâu đen. Hai bên thân và mặt bụng của con giun đất có 4 đốt lông ngắn và cứng, thân có nhiều đốt, có thể co giãn được nhằm giúp con giun đất dễ chui rúc trong đất. con giun đất là loài động vật lưỡng tính, tuyến sinh dục tập trung ở một số đốt trên thân. Tuy nhiên con giun đất không tự thụ tinh mà thực hiện thụ tinh chéo. Bề mặt da mềm, ẩm ướt và có chức năng hô hấp. Thức ăn chính của giun là mùn hữu cơ. Giun sợ ánh sáng nên hiếm khi chui ra khỏi mặt đất, chỉ khi mưa lớn khiến bùn đất trũng xuống và mất độ xốp giun mới bò lên để hô hấp. Bộ phận dùng Toàn thân của con giun đất đều được sử dụng để làm thuốc. Phân bố con giun đất phân bố ở nhiều địa phương tại nước ta, đặc biệt là ở những địa phương làm nghề trồng trọt. con giun đất không chỉ là thức ăn của gà vịt mà còn có vai trò duy trì độ mềm xốp và dinh dưỡng trong đất. 2/ Lợi ích của con giun đất đối với đất trồng trọt như thế nào Số lượng giun trong đất là một dấu hiệu chỉ tình trạng màu mỡ của đất. Trong đất màu mỡ, bạn có thể tìm thấy điển hình từ 300-500 con/m2 khoảng 1-2 tấn/ha. con giun đất là một yếu tố để xác định chất lượng đất Đất có mật độ giun lớn còn biểu hiện nhiều đời sống phân hủy khác xảy ra trong đất, như loài đuôi bật, vi khuẩn và nấm. Vì thế người ta lấy giun là một chỉ số sinh học Nó giúp bạn hình dung được trong đất của bạn có bao nhiêu hoạt động sinh học đang xảy ra. Giun giúp cải thiện nguồn dinh dưỡng trong đất Con giun đất ăn các mảnh vụn cây mục nát trong đất như rễ chết, thân, lá, vỏ và đất. Hệ thống tiêu hóa của giun tập trung các thành phần hữu cơ và chất khoáng trong thực phẩm chúng ăn, vì vậy chất thải của chúng nhanh chóng làm giàu chất dinh dưỡng cho đất hơn những vùng đất không tồn tại giun. Sau nhiều nghiên cứu cho thấy, phân giun có chứa nhiều N gấp 5 lần, nhiều P gấp 7 lần, nhiều K gấp 11 lần cũng như nhiều Mg gấp 3 lần so với đất thường. Như vậy, giun đóng vai trò rất quan trọng trong việc làm đất tơi xốp, tăng độ phì nhiêu của đất. Nguồn N có trong thịt trùn đất khi nó đã chết cũng được phân hủy nhanh chóng đóng góp hơn nữa hàm lượng nitơ trong đất. con giun đất thường để lại phân giàu chất dinh dưỡng trong các hang đất của chúng, cung cấp môi trường thuận lợi để cây sinh trưởng, và phát triển tốt. Từ đó các rãnh đất sẽ giúp rễ cây xuyên sâu hơn vào lòng đất, để cung cấp thêm độ ẩm và chất dinh dưỡng. Bên cạnh đó trùn đất còn có tác dụng cân bằng độ pH trong đất. Giun cải thiện độ tơi xốp, thoát nước, thoáng khí Trong quá trình giun di chuyển và đào hang sống trong đất, tạo thành các khoảng trống, từ đó giúp cải thiện hệ thống thoát nước tự nhiên cho đất. Đất không được cày xới nhưng lại có lượng giun sinh sống cao thì khả năng thoát nước vẫn đảm bảo tốt hơn so với đất được canh tác. Ngoài ra, giun còn là kỹ sư xây dựng tài giỏi trong việc tạo ra các đường lưu dẫn đưa các chất dinh dưỡng phân tán đều trong đất nhờ “đường mòn” tạo ra trong quá trình di chuyển. Đồng thời, việc trùn thường xuyên di chuyển như vậy tạo thành những khe hở trong đất làm đất được tơi, thoáng, giàu dưỡng khí, nước không bị ứ đọng, khí trong đất được lưu thông. Như vậy rễ cây hô hấp dễ dàng, do đó mà cây cối sẽ phát triển khỏe mạnh, cho năng suất cao. Giun làm cải thiện cấu trúc của đất Lợi ích của con giun đất với trồng trọt phải kể đến tác dụng của việc cải thiện cấu trúc đất. Phân trùn và xác trùn đất kết hợp với hạt đất có khả năng tái tạo keo đất, ổn định nước, lưu giữ độ ẩm và nó còn góp phần tái tạo lại lớp đất mặt. Trùn để lại phân trong đất, xây dựng lại cấu trúc bề mặt đất, trong điều kiện thuận lợi chúng sẽ mang lại khoảng 50 tấn phân/ ha, mỗi năm đủ để tạo thành một lớp đất sâu 5mm. Giun giúp cải thiện năng suất Những chú trùn đất cần mẫn cày xới tạo môi trường thuận lợi tơi xốp, thoáng khí, giàu dinh dưỡng cho cây trồng phát triển khỏe mạnh, cho năng suất cao. Ngoài ra, nhờ thoáng khí mà các vi sinh trong đất sẽ phát triển mạnh và tạo cho đất có hoạt động sinh học cao qua đó giảm được tác động xấu từ sâu bệnh hại tồn tại trong đất gây ra. Giun làm tiêu diệt vi sinh gây bệnh Một lợi ích của con giun đất đối với trồng trọt phải nhắc đến, chính là tiêu diệt vi sinh gây bệnh trong đất. Theo các nhà nghiên cứu trùn đất sẽ giúp tiêu diệt các vi sinh gây bệnh hiệu quả, khi chúng ăn lá cây sẽ tiêu hóa luôn những mầm nấm mốc, phân của chúng là môi trường tốt nhất để các loại vi sinh vật hữu ích phát triển. Từ đó, các vi sinh vật hữu ích sẽ tạo ra chất kháng sinh để ngăn chặn các vi sinh vật gây hại cho cây trồng. Mật độ giun trong đất cao cũng tạo môi trường thuận lợi cho các vi sinh vật có lợi giúp hạn chế tuyến trùng và nấm gây hại trong đất. 3/ Bảo vệ giun như thế nào? Giun cần cung cấp đủ lượng sinh khối, nhiệt độ vừa phải và đủ ẩm. Đó là lý do chúng rất thích che phủ. Việc làm đất thường xuyên để canh tác sẽ làm giảm số lượng trùn trong đất. Thuốc sâu, thuốc trừ cỏ cũng có thể làm ảnh hưởng rất xấu tới trùn. Một số loại thuốc sâu phổ biến hiện nay ít nhiều đều gây hại cho trùn. Cũng tương tự, việc sử dụng thuốc trừ cỏ sẽ loại bỏ một phần thức ăn cơ bản của trùn. 4/ Giai thoại con giun đất Quay ngược lại từ lúc trước cả khi loài người xuất hiện trên trái đất này. Trùn có thể là loài vật cổ đại nhất trên thế giới. Thậm chí trong các nghiên cứu về thời kỳ khủng long, người ta cũng vẫn nhắc đến con trùn như 1 loài ăn phân và chất thải. Chúng hoạt động không ngừng và thải ra 1 loại chất mùn hữu dụng cho đất. Mức độ màu mỡ của đất nơi trùn sinh sống được gia tăng và khiến cho cây phát triển tốt tươi. Từ năm 51 và năm 30 trước công nguyên, Nữ Hoàng Ai Cập Cleopatra VII đã nhận ra tầm quan trọng của con trùn khi quan sát sông Nile. Bà phát hiện ra rằng loài trùn sông Nile khiến cho vùng đất ven sông trở nên màu mỡ và những vụ hoa màu trồng ven sông Nile luôn có lượng thu hoạch cao hơn những vùng khác. Từ đó, việc xuất khẩu trùn đất ra khỏi Ai Cập bị nghiêm cấm và tội tiêu thụ trùn bất hợp pháp buôn lậu trở thành tội bị phán tử hình. Cũng bởi nguyên nhân trên mà sông Nile luôn được biết đến là vùng đất màu mỡ nhất trên thế giới, thậm chí cho đến ngày năm sau đó, Charles Darwin xuất bản cuốn sách “”The Formation of Vegetable Mould through the Actions of Worms with Observations on their Habits” “Sự tạo tầng mùn thực vật nhờ các hoạt động của con giun đất” vào năm 1881. Ông đề cập đến việc cày xới như là 1 bước tiến của con người trong việc đồng áng. Nó đã thay đổi cuộc sống của người làm nông khắp mọi nơi. Thế nhưng sau đó, con trùn con giun đất, mặc dù vẫn làm đúng công việc của nó từ trước đến nay, lại bị xem là 1 loài vật gây hại thay vì giúp ích cho đất. Người ta cho rằng giun phá hoại cây trồng và ăn hết rễ hoa màu. Thực ra trùn con giun đất chỉ đào xới trong đất, giúp đưa không khí và nước vào trong lòng đất và giúp đất màu mỡ hơn. Không đồng ý với nhận định của đa số người thời đó, Darwin đã tiếp tục nghiên cứu về trùn đất, về tập tính và ích lợi của chúng trong 40 năm. Ông thậm chí còn đặt tên cho loài sinh vật này là “một trong những sinh vật quan trọng nhất trên trái đất”. Trong suốt cuộc cách mạng công nghiệp những năm 1800, ngành hóa chất được phát triển và những nghiên cứu của Darwin hầu như bị gạt bỏ. Những phương pháp cày xới tự nhiên dựa vào trùn đất và ích lợi của con trùn bị phớt lờ. Thay vào đó, những sản phẩm hóa chất do con người tạo ra được đưa vào sử dụng rộng rãi bởi chúng có hiệu quả nhanh và có lợi hơn với người trồng trên những cánh đồng lớn. Phân bón hóa học lên ngôi. Chúng giúp kích thích cây trồng phát triển vượt trội, chúng đồng thời phá hủy đất, khiến cho cấu trúc đất bị hủy hoại và với mỗi vụ mùa mới sẽ đòi hỏi một lượng phân hóa học lớn hơn được bón vào để tiếp tục gia tăng sản lượng hoa màu. Những loại chất hóa học độc hại khác như thuốc trừ sâu đã giết chết con giun đất tồn tại trong những cánh đồng, quần thể giun bị giảm khủng khiếp bởi những loại phân bón và hóa chất đó ngày càng được sử dụng nhiều và không có dấu hiệu dừng lại. Bởi tính tiện dụng và sẵn có, phân hóa học và thuốc trừ sâu trở thành thứ được nghĩ đến trước tiên khi bắt đầu trồng trọt ở bất cứ đâu trên thế giới. Tuy nhiên, một số nhà nông đã bắt đầu nhận ra tác hại của việc lạm dụng hóa chất trên đất của họ. Họ bắt đầu thử nghiệm việc nuôi trùn với những quy mô nhỏ và dùng phân trùn để cải tạo đất. Kết quả của thử nghiệm khiến họ thực sự bất ngờ. Đất đai được cải tạo nhanh chóng. Cây trồng trên vùng đất bón phân trùn luôn có hương vị ngon hơn và được đánh giá cao hơn. Sản phẩm hữu cơ Organic product bắt đầu được biết đến và phổ biến rộng rãi, và phong trào sử dụng những sản phẩm không qua bón phân hóa học được khuyến khích không ngừng trên khắp thế giới. Cùng lúc đó nghề nuôi trùn để lấy phân bón cũng bắt đầu phát triển và nhân rộng. Quy mô nuôi trùn được cải thiện và nó đã trở thành một quy trình chăn nuôi công nghiệp được thương mại hóa, bắt đầu từ những năm 1970. Để giúp cho nông dân phố tự tạo được giun cho vườn nhà thì SFARM đã phát triển phân trùn quế vừa cung cấp dinh dưỡng vừa tạo giun cực hiệu quả. Tìm hiểu thêm về phân trùn quế SFARM tại đây. Giun là bạn đồng hành có thể giúp chúng ta giữ đất đai được màu mỡ và từ đó mùa màng thuận lợi, năng suất thu hoạch được cải thiện. Vì vậy, việc người canh tác hiểu được vai trò và lợi ích của con giun đất mang tới là vô cùng quan trọng. Hãy bảo vệ đất bằng cách bảo vệ giun, bạn nhé! *Xem thêm Hướng dẫn nuôi trùn quế đúng kỹ thuật tại nhà và nông trại và Sfarm Che phủ đất – biện pháp vàng giúp cải tạo đất trồng 9 loại cây trồng giúp cải tạo đất hiệu quả thị Đất – chìa khóa vàng trong canh tác nông nghiệp hữu cơ Tầm quan trọng của sinh vật trong đất Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá một số đặc điểm sinh học và ảnh hưởng của hai loại thức ăn tinh trong khẩu phần ăn tới năng suất sinh sản, sinh trưởng và hiệu quả phân giải chất hữu cơ của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae khi nuôi trên khay. Giun sinh sản được nuôi trong khay nhựa 15 con/khay với chất nền là phân bò vắt bớt nước 550 g/khay trong điều kiện phòng thí nghiệm nhiệt độ 23-28C, độ ẩm 55-65%. Thí nghiệm được bố trí theo phương thức phân lô so sánh gồm 2 lô với 2 loại thức ăn tinh khác nhau bột gạo tẻ và bột ngô vàng, lặp lại 3 lần. Giun sinh sản được tách ra khỏi chất nền cũ sau 10 ngày đẻ và kén được đem đi ấp để theo dõi sinh trưởng của giun con trong 4 tuần. Kết quả cho thấy bổ sung 2 loại thức ăn tinh cho hiệu quả cao về khả năng sản xuất của giun. Sau 4 tuần, mỗi giun sinh sản tạo ra 89,22-90,97 giun con, tương ứng 8,11g vật chất khô sinh khối, hệ số chuyển hóa từ chất thải thành sinh khối giun là 9,861-101. Giun đất châu Phi có kích thước, khối lượng cơ thể và kén lớn, phù hợp cho nuôi thâm canh trên khay. Tuy nhiên, để nhân rộng ra thực tiễn sản xuất cần đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với sinh lý của giun, tính chi phí và lợi nhuận để đạt năng suất, hiệu quả cao nhất. This study was undertaken to assess the biology and effects of 2 types of the concentrated feed in the diet on growth, reproductive performance and efficiency of organic waste degradation of African nightcrawler Eudrilus Eugeniae by a batch production on the tray vermiculture system with compound feed supplement. The breeding earthworms were kept in plastic trays 15 worms/tray added with a substrate made of dried cow dung 550g/tray under the laboratory conditions temperature 23-28C, humidity 55-65%. The experiment was designed by 2 groups with 2 different concentrated feed in the diet rice flour and yellow maize flour and 3 replicates. The breeding earthworms were separated from the substrate every 10 days after laying. The cocoons were hatched and the growth of hatchlings was assessed up to 4 weeks of age. Results showed that the African nightcrawler had a big size and weight of both its body and cocoon that were appropriate for the intensive vermiculture by the tray system. Supplement of 2 types of concentrated feed in the diet resulted in high and equivalent efficiency of worm growth and reproductivity. After 4 weeks, each breeding earthworm produced newly born hatchlings, equivalent to dry matter of worm biomass, and the conversion ratio from solid waste to worm mass was However, in the production condition, the indoor climate should be adjusted appropriately to the earthworm physiology, and the cost-benefit analysis should be conducted in order to achieve the highest performance and economic efficiency. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for free Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No. 5 323-331 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 185 323-331 323 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GIUN ĐẤT CHÂU PHI Eudrilus eugeniae KHI NUÔI TRÊN KHAY CÓ BỔ SUNG THỨC ĂN TINH Hán Quang Hạnh*, Nguyễn Thị Xuân, Vũ Đình Tôn Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam *Tác giả liên hệ hqhanh Ngày nhận bài Ngày chấp nhận đăng TÓM TẮT Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá một số đặc điểm sinh học và ảnh hưởng của hai loại thức ăn tinh trong khẩu phần ăn tới năng suất sinh sản, sinh trưởng và hiệu quả phân giải chất hữu cơ của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae khi nuôi trên khay. Giun sinh sản được nuôi trong khay nhựa 15 con/khay với chất nền là phân bò vắt bớt nước 550 g/khay trong điều kiện phòng thí nghiệm nhiệt độ 23-28C, độ ẩm 55-65%. Thí nghiệm được bố trí theo phương thức phân lô so sánh gồm 2 lô với 2 loại thức ăn tinh khác nhau bột gạo tẻ và bột ngô vàng, lặp lại 3 lần. Giun sinh sản được tách ra khỏi chất nền cũ sau 10 ngày đẻ và kén được đem đi ấp để theo dõi sinh trưởng của giun con trong 4 tuần. Kết quả cho thấy bổ sung 2 loại thức ăn tinh cho hiệu quả cao về khả năng sản xuất của giun. Sau 4 tuần, mỗi giun sinh sản tạo ra 89,22-90,97 giun con, tương ứng 8,11g vật chất khô sinh khối, hệ số chuyển hóa từ chất thải thành sinh khối giun là 9,861-101. Giun đất châu Phi có kích thước, khối lượng cơ thể và kén lớn, phù hợp cho nuôi thâm canh trên khay. Tuy nhiên, để nhân rộng ra thực tiễn sản xuất cần đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với sinh lý của giun, tính chi phí và lợi nhuận để đạt năng suất, hiệu quả cao nhất. Từ khóa Giun đất, nuôi giun, sinh khối giun, thức ăn tinh. Biology, Growth and Reproductive Performance of African Nightcrawler Eudrilus eugeniae Raised in a Tray Vermiculture System and Supplemented with the Concentrated Feed ABSTRACT This study was undertaken to assess the biology and effects of 2 types of the concentrated feed in the diet on growth, reproductive performance and efficiency of organic waste degradation of African nightcrawler Eudrilus Eugeniae by a batch production on the tray vermiculture system with compound feed supplement. The breeding earthworms were kept in plastic trays 15 worms/tray added with a substrate made of dried cow dung 550g/tray under the laboratory conditions temperature 23-28C, humidity 55-65%. The experiment was designed by 2 groups with 2 different concentrated feed in the diet rice flour and yellow maize flour and 3 replicates. The breeding earthworms were separated from the substrate every 10 days after laying. The cocoons were hatched and the growth of hatchlings was assessed up to 4 weeks of age. Results showed that the African nightcrawler had a big size and weight of both its body and cocoon that were appropriate for the intensive vermiculture by the tray system. Supplement of 2 types of concentrated feed in the diet resulted in high and equivalent efficiency of worm growth and reproductivity. After 4 weeks, each breeding earthworm produced newly born hatchlings, equivalent to dry matter of worm biomass, and the conversion ratio from solid waste to worm mass was However, in the production condition, the indoor climate should be adjusted appropriately to the earthworm physiology, and the cost-benefit analysis should be conducted in order to achieve the highest performance and economic efficiency. Keywords Concentrated feed, earthworm, earthworm biomass, vermicomposting. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Nuôi giun được coi là một trong những biện pháp hiệu quả và bền vững để xử lý chất thải hữu cơ và tạo ra nguồn sinh khối giun có thể sử dụng làm thức ăn chăn nuôi Đặng Vũ Bình & Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae khi nuôi trên khay có bổ sung thức ăn tinh 324 cs., 2008; Vu Dinh Ton & cs., 2009; Vũ Đình Tôn & Hán Quang Hạnh, 2010. Giun đất có khả năng chuyển hóa hầu hết các loại chất thải hữu cơ như phân gia súc, phụ phẩm nông nghiệp thành chất mùn, tạo nguồn phân bón lý tưởng cho cây trồng do có chứa các chất dinh dưỡng như nitơ, phốtpho, kali và các chất khoáng hòa tan Ndegwa & Thompson, 2001. Khả năng sản xuất sinh khối giun từ chất thải cũng rất hiệu quả. Theo Edwards 1985, 1 tấn chất thải chăn nuôi có thể tạo ra khoảng 100kg sinh khối giun, tỷ lệ chuyển hóa theo vật chất khô khoảng 10%. Sinh khối giun là một nguồn thức ăn chăn nuôi giàu dinh dưỡng với hàm lượng protein cao 60-70% theo vật chất khô, lipit chiếm 6-11%, hàm lượng carbohydrate là 5-21%, hàm lượng khoáng là 2-3% và rất nhiều loại vitamin, đặc biệt là Niacin và B12 Edwards, 1985. Vì vậy, việc phát triển nuôi giun vừa có ý nghĩa hạn chế ô nhiễm môi trường, vừa giảm chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, các mô hình nuôi giun ở Việt Nam hiện nay chủ yếu theo kiểu truyền thống trong luống ở dưới nền nên năng suất chưa cao và chưa chủ động kiểm soát được năng suất sinh trưởng và sinh sản của giun. Edwards 1985 cho rằng quá trình phân giải phân gia súc và các chất hữu cơ trong luống làm nhiệt độ luống nuôi tăng cao có thể lên đến 70oC, ảnh hưởng tới giun nên năng suất sinh khối thấp. Ngoài ra, nuôi giun trong luống còn có hạn chế là không thể tách giun theo từng lứa tuổi nên khó khăn trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng do mỗi giai đoạn giun cần các điều kiện môi trường và nhu cầu dinh dưỡng khác nhau. Việc kiểm soát số lượng và mật độ nuôi trong luống là rất khó, nếu mật độ quá cao có thể làm giảm sinh trưởng do sự cạnh tranh hoặc nếu mật độ quá thấp có thể giảm khả năng sinh sản do giảm tần suất giao phối giữa các cá thể giun. Việc xác định thời điểm thu hoạch giun ở dưới luống cũng khó khăn do không thể tách riêng theo từng lứa. Bên cạnh đó, Edwards 1988 đã khẳng định việc cung cấp cho giun một lượng đầy đủ các chất hữu cơ dễ phân hủy và các carbohydrate chưa được đồng hóa sẽ giúp nâng cao khả năng sinh trưởng và sinh sản của giun. Tuy nhiên, hầu hết cơ sở nuôi giun ở Việt Nam hiện nay chưa bổ sung thức ăn cho giun. Vì vậy, nghiên cứu này tiến hành thử nghiệm nhằm đánh giá một số đặc điểm sinh học của giun và trứng kén, ảnh hưởng của việc bổ sung 2 loại thức ăn tinh bột gạo tẻ và bột ngô vàng đến năng suất sinh sản, sinh trưởng, của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae, hiệu quả phân giải các chất hữu cơ, từ đó góp phần nâng cao khả năng sản xuất sinh khối giun làm thức ăn chăn nuôi. 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành tại phòng thí nghiệm thuộc Hợp tác xã Làng Gióng Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội và phòng thí nghiệm Bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu là loài giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae được chọn từ giun nuôi tại Hợp tác xã Làng Gióng theo các đặc điểm chính gồm giun khỏe mạnh vận động nhanh, có màu nâu ánh xanh đặc trưng, có khối lượng và kích thước cơ thể trung bình của quần thể, giun đã thành thục có đai sinh dục lớn và nổi rõ. Phương pháp nghiên cứu Bố trí thí nghiệm Đối với giun sinh sản, thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh gồm 2 lô được bổ sung hai loại thức ăn tinh khác nhau là bột gạo tẻ và bột ngô vàng Bảng 1. Giun sinh sản được nuôi trong khay nhựa có kích thước dài, rộng và cao lần lượt là 25 × 15 × 10cm, mỗi khay nuôi được 15 giun trưởng thành. Các khay được đặt trong phòng thí nghiệm có điều hòa nhiệt độ 23-28C, độ ẩm 55-65%. Ẩm nhiệt kế được đặt trong phòng để theo dõi nhiệt độ và ẩm độ. Khay nuôi được che phủ bằng tấm lưới màu đen để giữ ẩm và tránh ánh sáng chiếu trực tiếp vào giun. Mỗi khay chứa 550g chất nền độ dày 10cm là phân bò đã được vắt bớt nước bằng máy độ ẩm 28-30% để loại bỏ nước tiểu, tỷ lệ CN ước tính là 251 phù hợp với khuyến cáo của Ndegwa & Thompson 2001 về tỷ lệ CN lý tưởng để nuôi giun là 251. Chất nền được xịt nước cho đủ độ ẩm 75-80% trước khi thả giun vào. Thức ăn tinh được bổ sung với một lượng Hán Quang Hạnh, Nguyễn Thị Xuân, Vũ Đình Tôn 325 nhỏ mỗi lần 3-4 g/khay bằng cách rải đều trên bề mặt chất nền, quan sát thấy giun ăn hết thức ăn sau 1-2 ngày thì mới tiếp tục bổ sung. Do chưa có nghiên cứu nào công bố về nhu cầu dinh dưỡng của giun đất châu Phi nên chúng tôi tiến hành thử nghiệm bổ sung thức ăn tinh theo 2 công thức như bảng 1. Thành phần hóa học của thức ăn tinh được phân tích tại Phòng thí nghiệm Trung tâm, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Bảng 2. Chỉ tiêu nghiên cứu Năng suất sinh sản của giun được xác định thông qua khả năng đẻ trứng hay kén và khả năng ấp nở. Dominguez & cs. 2001 cho biết ở 25C, kén giun sẽ nở sau 12 ngày đẻ ra. Vì vậy, để tránh việc kén đẻ đầu tiên sẽ nở trong khay, giun sinh sản sẽ được tách ra khỏi chất nền cũ 10 ngày sau khi đẻ và chuyển sang khay mới cho lứa đẻ tiếp theo. Tiến hành đếm toàn bộ số kén đẻ ra trong 10 ngày ở mỗi khay. Sau đó, chuyển toàn bộ số kén này vào khay có chứa chất nền mới độ ẩm chất nền từ 78-80% và đem ấp ở phòng thí nghiệm có nhiệt độ từ 25-28C. Sau 2 tuần bắt đầu đếm số giun nở ra còn sống và tiếp tục đếm số giun nở sau 3 và 4 tuần. Từ đó tính tỷ lệ giun con nở ra hàng tuần và tổng số giun con nở ra còn sống sau 4 tuần. Để xác định đặc điểm sinh học của kén tiến hành lấy ngẫu nhiên 30 kén ra khỏi chất nền, rửa sạch bằng nước cất, thấm khô bằng giấy rồi cân từng quả bằng cân phân tích Ohaus 10-4 sai số 0,0001g. Đo đường kính lớn, đường kính nhỏ từng kén bằng thước kẹp độ chia 0,1mm. Để xác định đặc điểm sinh học và khả năng sinh trưởng của giun, tiến hành lấy ngẫu nhiên 45 giun con lúc mới nở 1-3 ngày tuổi và hàng tuần 1-4 tuần và 45 giun sinh sản khoảng 100 ngày tuổi ra khỏi chất nền. Giun sau khi tách khỏi chất nền sẽ được làm sạch rồi cân từng cá thể bằng cân phân tích Ohaus 10-4 sai số 0,0001g. Đo chiều dài cơ thể giun và đai sinh dục bằng thước thẳng độ chia 1mm. Từ đó, tính sinh trưởng tích lũy về khối lượng và kích thước cơ thể giun trung bình hàng tuần, hàng ngày và tốc độ sinh trưởng của giun sau 4 tuần. Ước tính tổng sinh khối được sản xuất ra bởi 1 giun sinh sản sau 4 tuần dựa vào khối lượng và tỷ lệ nuôi sống của giun con. Lượng thức ăn tinh được cân ở mỗi lần cho ăn và lượng chất nền được phân giải bởi giun sinh sản được cân sau mỗi lần chuyển sang khay mới 10 ngày bằng cân điện tử Ohaus 10-3 sai số Mẫu chất nền được phân tích vật chất khô và các mẫu thức ăn ở 2 công thức được phân tích hàm lượng vật chất khô, protein thô, lipit thô, khoáng tổng số và xơ thô theo AOAC 1990 tại Phòng thí nghiệm Trung tâm và Phòng thí nghiệm Bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa, Khoa Chăn nuôi. Lượng thức ăn tinh tiêu thụ và lượng chất nền được phân giải được sử dụng để tính lượng tiêu tốn thức ăn và tiêu tốn chất nền để sản xuất ra 10 kén và 10 giun con tính theo vật chất tươi và vật chất khô và hệ số chuyển hóa từ chất thải thành sinh khối giun. Xử lý số liệu Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê mô tả trên phần mềm Minitab So sánh sự sai khác các giá trị trung bình của 2 lô thí nghiệm bằng phép thử T-test mức ý nghĩa 5%. Xác định sự ảnh hưởng của các loại thức ăn tinh bổ sung tới tỷ lệ nở của kén bằng phương pháp kiểm định Khi bình phương Chi-square analysis. Bảng 1. Bố trí thí nghiệm nuôi giun sinh sản Lô 1 Lô 2 Số lần lặp lại 3 3 Số giun sinh sản mỗi khay 15 15 Loại chất nền Phân bò đã vắt bớt nước 550 g/khay Phân bò đã vắt bớt nước 550 G/khay Thức ăn tinh bổ sung CT 1* CT 2** Ghi chú *CT 1 65% bột gạo tẻ, 15% khô đậu tương, 19% bột vỏ trứng, 1% premix vitamin; **CT 2 65% bột ngô vàng, 15% khô đậu tương, 19% bột vỏ trứng, 1% premix vitamin. Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae khi nuôi trên khay có bổ sung thức ăn tinh 326 Bảng 2. Thành phần hóa học của thức ăn tinh Công thức Vật chất khô % Protein thô % Lipit thô % Khoáng tổng số % Xơ thô % CT1 92,89 13,25 1,04 18,08 0,27 CT2 91,65 12,79 2,18 17,42 0,58 Bảng 3. Một số đặc điểm sinh học của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae Chỉ tiêu theo dõi Mean ± SD Cv % Min Max Kén Khối lượng n = 30, mg/kén 16,25 ± 2,14 13,16 11,7 20 Đường kính lớn n = 30, mm 6,73 ± 1,17 17,41 4 9 Đường kính nhỏ n = 30, mm 3,10 ± 0,48 15,51 2 4 Giun sơ sinh Khối lượng n = 45, mg/con 6,91 ± 1,08 15,68 5,73 7,87 Chiều dài cơ thể n = 45, mm 14,51 ± 1,78 12,26 10 18 Giun sinh sản Khối lượng n = 45, g/con 3,37 ± 0,49 14,68 3,09 3,80 Chiều dài cơ thể n = 45, mm 208,73 ± 28,54 13,67 153 272 Chiều dài đai sinh dục khi co n = 45, mm 4,82 ± 0,83 17,29 3 7 Chiều dài đai sinh dục khi giãn n = 45, mm 8,69 ± 0,82 9,45 7 11 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Một số đặc điểm sinh học của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae Xác định đặc điểm sinh học của kén và của giun nhằm cung cấp thông tin cơ bản về khối lượng và kích cỡ của kén và giun, là căn cứ để thiết kế máy tách kén và tách giun khi nuôi thâm canh ở trên khay. Một số đặc điểm sinh học của kén, giun sơ sinh và giun sinh sản được trình bày ở bảng 3. Kén là nơi chứa trứng giun sau khi được đẻ ra bên ngoài môi trường. Đặc điểm hình thái của kén được xác định thông qua khối lượng, đường kính lớn và đường kính nhỏ. Khối lượng trung bình của kén là 16,25mg. Kết quả này tương đương với công bố của Reinecke & Viljoen 1988 là 16,99mg và Sivasankari & cs. 2013 là 17mg. Khối lượng kén giun đất châu Phi là lớn hơn so với kén giun quế Perionyx excavatus là 5,0mg Bhattacharjee & Chaudhuri, 2002 và 2,5-2,6mg Edwards & cs., 1998. Kén giun đất châu Phi cũng có khối lượng lớn hơn kén giun Eisenia fetida là 14,3mg Venter & Reinecke, 1988. Đây là một ưu điểm của giun đất châu Phi vì khối lượng kén lớn thường tương quan dương với số lượng và khối lượng giun sơ sinh. Về kích cỡ, kén giun đất châu Phi có hình oval với đường kính lớn là 6,73mm dao động 4-9mm và đường kính nhỏ là 3,10mm dao động 2-4mm. Theo Reinecke & Viljoen 1988, đường kính lớn kén là 6,02mm, đường kính nhỏ kén là 3,11mm. Theo Sivasankari & cs. 2013, đường kính lớn kén dao động 4,3-7,8mm, đường kính nhỏ kén dao động 2,1-4mm. Kích cỡ của kén giun đất châu Phi cũng lớn hơn so với giun quế Perionyx excavatus đường kính lớn là 6,52mm và đường kính nhỏ là 2,1mm, Bhattacharjee & Chaudhuri, 2002, lớn hơn kén giun Eisenia fetida đường kính lớn là 4,62mm và đường kính nhỏ là 2,85mm, Elvira & cs., 1996. Như vậy, với kích cỡ và khối lượng kén lớn nên việc tách kén ra khỏi chất nền để đem đi ấp theo từng lứa đối với giun đất châu Phi là dễ thực hiện hơn các loại giun khác. Khi thiết kế các lỗ sàng của máy tách kén cần lưu ý phù hợp với kích cỡ của kén. Giun sơ sinh có khối lượng cơ thể trung bình là 6,91mg và chiều dài là 14,51mm. Kết quả này tương đương với công bố của Sophie & Reinecke 1989 là 6,2mg. Giun đất châu Phi sơ sinh có kích thước cơ thể lớn hơn so với giun quế Perionyx Excavatus chiều dài cơ thể là 4,8mm theo Bhattacharjee & Chaudhuri, 2002 và khối lượng lớn hơn giun Eisenia fetida là 2,8mg theo Hán Quang Hạnh, Nguyễn Thị Xuân, Vũ Đình Tôn 327 Venter & Reinecke, 1988. Giun sinh sản cũng có khối lượng và kích thước cơ thể lớn 3,37 g/con, và 208,73 mm/con, lớn hơn so với giun quế Perionyx excavatus chiều dài cơ thể dao động từ 100-180mm theo Bhattacharjee & Chaudhuri, 2002 và giun Eisenia fetida khối lượng tối đa lúc 530 ngày tuổi là 1,5 g/con theo Venter & Reinecke, 1988. Khối lượng và kích thước cơ thể lớn là một ưu điểm của giun đất châu Phi trong việc sản xuất sinh khối làm thức ăn chăn nuôi. Đồng thời, kích thước cơ thể lớn sẽ giúp việc thu hoạch giun bằng máy dễ dàng hơn, đáp ứng yêu cầu của việc nuôi theo quy mô thâm canh trên khay. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh tới năng suất sinh sản của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae Khả năng sinh sản của giun được xác định thông qua năng suất đẻ trứng kén cũng như khả năng ấp nở của kén. Kết quả theo dõi khả năng đẻ kén và tỷ lệ nở của kén giun đất châu Phi ở 2 lô thí nghiệm nuôi giun sinh sản được trình bày ở bảng 4. Bảng 4. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh tới năng suất sinh sản và tỷ lệ ấp nở của kén giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae Chỉ tiêu theo dõi Lô 1 n = 3 Lô 2 n = 3 p-value Mean ± SD Mean ± SD Số kén đẻ ra/giun bố mẹ/10 ngày 9,36 ± 2,17 9,70 ± 2,41 0,76 Số kén đẻ ra/giun bố mẹ/30 ngày 28,09 ± 1,64 29,50 ± 1,14 0,29 Tỷ lệ đẻ trong 10 ngày % 93,65 ± 5,46 97,00 ± 2,90 - Số kén ấp mỗi đợt 137,33 ± 20,04 144,11 ± 14,60 - Tỷ lệ nở sau 14 ngày % 88,59 90,59 0,10 Tỷ lệ nở sau 21 ngày % 94,49 95,29 0,36 Tỷ lệ nở sau 28 ngày % 98,84 98,93 0,65 Số giun con nở ra/kén ấp sau 14 ngày 2,08 ± 0,50 2,03 ± 0,28 0,80 Số giun con nở ra/kén ấp sau 21 ngày 3,08 ± 0,29 2,80 ± 0,37 0,09 Số giun con nở ra/kén ấp sau 28 ngày 3,32 ± 0,33 3,17 ± 0,30 0,32 Tổng số giun con nở ra còn sống/giun bố mẹ trong 28 ngày 89,22 ± 6,03 90,97 ± 5,60 0,73 Bảng 5. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh tới khả năng sinh trưởng và sản xuất sinh khối của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae Chỉ tiêu theo dõi Khối lượng n = 45, mg/con Dài thân n = 45, mm/con Mean ± SD Mean ± SD Sơ sinh từ 0 đến 3 ngày tuổi 6,91 ± 1,08 14,51 ± 1,78 Tuần 1 từ 7 đến 10 ngày tuổi 28,58 ± 0,67 30,4 ± 3,64 Tuần 2 từ 14 đến 17 ngày tuổi 125,36 ± 22,61 74,31 ± 5,87 Tuần 3 từ 21 đến 24 ngày tuổi 322,69 ± 24,11 114,82 ± 12,56 Tuần 4 từ 28 đến 31 ngày tuổi 446,91 ± 29,66 131,87 ± 10,02 Tăng khối lượng và dài thân trung bình hàng tuần 110,0 29,34 Tăng khối lượng và dài thân trung bình hàng ngày 15,71 4,19 Tốc độ sinh trưởng sau 4 tuần lần 64,67 9,09 Tổng sinh khối theo vật chất tươi ước tính sản xuất ra bởi 1 giun bố mẹ sau 4 tuần g 40,54 - Tổng sinh khối theo vật chất khô* ước tính sản xuất ra bởi 1 giun bố mẹ sau 4 tuần g 8,11 - Ghi chú *Vật chất khô của giun là 20%. Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae khi nuôi trên khay có bổ sung thức ăn tinh 328 Tỷ lệ đẻ của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae là tương đối cao và tương đương nhau giữa hai lô. Trung bình số kén đẻ ra của 1 giun sinh sản trong 10 ngày đạt là 9,36-9,7 kén, tương ứng với tỷ lệ đẻ là 93,65-97%. Kết quả này thấp hơn so với công bố của Sophie & Reinecke 1989 đối với giun đất châu Phi trung bình là 1,3 kén/giun/ngày trong 295 ngày theo dõi. Tuy nhiên, so với công bố của các tác giả khác, kết quả thử nghiệm của chúng tôi cho tỷ lệ đẻ cao hơn 0,46 kén/giun/ngày theo Reinecke & cs., 1992; 0,21 kén/giun/ngày theo Ali & Kashem, 2018. Tỷ lệ đẻ của giun đất châu Phi là cao hơn so với giun quế Perionyx excavatus là 0,33 kén/giun/ngày theo Reinecke & cs. 1992 và 0,82 kén/giun/ngày theo Edwards & cs. 1998. So với giun Eisenia fetida thì giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae cũng có tỷ lệ đẻ cao hơn là 0,24 kén/giun/ngày theo Reinecke & cs. 1992 và 0,42 kén/giun/ngày theo Chauhan & Singh 2013. Tỷ lệ đẻ cao là một trong những ưu điểm nổi bật của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae, giúp làm tăng khả năng sản xuất sinh khối và thuận lợi cho việc nuôi thâm canh theo từng lứa. Tỷ lệ nở của kén giun phụ thuộc vào tỷ lệ trứng được thụ tinh cũng như các điều kiện môi trường trong quá trình ấp. Trong nghiên cứu này, trứng giun được ấp trong chất nền là phân bò và ở môi trường tối ưu nhiệt độ môi trường từ 25-28C, độ ẩm chất nền từ 78-80% nên đạt kết quả tốt. Tỷ lệ nở sau 28 ngày ấp là rất cao và tương đương nhau ở 2 lô nuôi giun sinh sản lần lượt là 98,84% và 98,93%. Kết quả này cũng cao hơn các công bố trước đây trong cùng điều kiện ấp tối ưu 84% Sophie & Reinecke, 1989; 81% Dominguez & cs., 2001; 75,3% Ali & Kashem, 2018; 78%, Reinecke & cs., 1992. Kết quả này cũng cao hơn so với tỷ lệ ấp nở của kén giun quế Perionyx excavatus 72% Reinecke & cs., 1992; 91% Edwards & cs., 1998, cao hơn so với tỷ lệ ấp nở kén giun Eisenia fetida 76% Reinecke & cs., 1992; 86,6% Ali & Kashem, 2018. Số giun con nở ra trung bình mỗi kén là tương đương nhau giữa 2 lô nuôi giun sinh sản 3,32 con và 3,17 con. Sau 28 ngày, tổng số giun con nở ra còn sống/giun bố mẹ là như nhau ở 2 lô 89,22 con và 90,97 con. Kết quả này cao hơn so với các công bố trước đây là 2,3 con/kén Dominguez & cs., 2001; 2,7 con/kén Sophie & Reinecke, 1989; 2,23 con/kén Ali & Kashem, 2018. Do kén của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae có khối lượng và kích cỡ lớn hơn nên số giun con nở ra cũng nhiều hơn so với giun quế Perionyx excavatus và giun Eisenia fetida. Theo Edwards & cs. 1998 ở giun quế Perionyx excavatus số giun con nở ra mỗi kén đa số là 1 con/kén, chỉ có khoảng 5% số kén là 2 con/kén. Ở giun Eisenia fetida, số giun con nở ra mỗi kén là 2,7 con/kén Venter & Reinecke, 1988. Như vậy, giun đất châu Phi có khả năng sinh sản tốt và cao hơn so với một số loại giun khác nên phù hợp cho việc phát triển nuôi theo phương thức thâm canh và tách lứa. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh tới khả năng sinh trưởng và sản xuất sinh khối của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae Sinh trưởng của giun được xác định thông qua sự tăng lên về khối lượng và kích thước cơ thể qua các tuần. Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng của giun trong 4 tuần được trình bày ở bảng 5. Giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae sinh trưởng nhanh cả về khối lượng và chiều dài cơ thể trong 4 tuần đầu. Tăng khối lượng trung bình hàng ngày trong giai đoạn này là 15,71 mg/con và tăng chiều dài trung bình hàng ngày là 9,09 mm/con. Theo Sophie & Reinecke 1989, khối lượng cơ thể giun tăng dần từ sơ sinh cho tới 50 ngày tuổi, trước khi thành thục và sau khi bắt đầu đẻ trứng, khối lượng cơ thể tiếp tục tăng nhưng tốc độ tăng chậm hơn. Khối lượng cơ thể tăng lên trong giai đoạn từ sơ sinh đến 50 ngày tuổi đạt trung bình 34,3 mmg/giun/ngày. Ali & Kashem 2018 cũng cho biết tốc độ tăng khối lượng cơ thể của giun đất châu Phi là 17,43 mg/con trong 7 tuần đầu sau khi nở. So với một số loại giun khác, giun đất châu Phi có tốc độ sinh trưởng cao hơn. Venter & Reinecke 1988 công bố sinh trưởng của giun Eisenia fetida trong 60 ngày đầu sau khi nở đạt Hán Quang Hạnh, Nguyễn Thị Xuân, Vũ Đình Tôn 329 2,5 mg/con/ngày, trong khi theo Ali & Kashem 2018 sinh trưởng của giun Eisenia fetida trong 6 tuần đầu sau nở đạt 16,3 mg/con/ngày. Sinh trưởng của giun đất châu Phi cũng cao hơn hẳn so với giun quế Perionyx excavatus đạt 3,48 mg/con/ngày trong 30 ngày đầu sau khi nở theo Reinecke & Hallatt, 1989. Như vậy, giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae có tốc độ tăng khối lượng và kích thước cơ thể cao nên khả năng sản xuất sinh khối là rất lớn. Tổng sinh khối sản xuất ra bởi 1 giun sinh sản sau 4 tuần đạt 40,54g vật chất tươi, tương đương với 8,11g vật chất khô. Hàm lượng protein thô của giun ước tính là 66,04% theo vật chất khô Nandeesha & cs., 1988 nên khả năng sản xuất sinh khối protein của 1 giun sinh sản sau 4 tuần ước tính là 5,36g protein theo vật chất khô. Đây là một nguồn cung cấp thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh tới tiêu tốn thức ăn và khả năng phân giải chất thải hữu cơ của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae Giun đất châu Phi được nuôi phổ biến với hai mục tiêu chính là phân giải các chất thải hữu cơ và sản xuất sinh khối giun làm thức ăn chăn nuôi. Để nâng cao khả năng sản xuất của giun, ngoài chất nền là phân bò, nghiên cứu này còn thử nghiệm bổ sung thức ăn tinh cho giun. Kết quả về tiêu tốn thức ăn và lượng chất nền được phân giải bởi giun sinh sản trong 30 ngày thí nghiệm ở 2 lô được trình bày ở bảng 6. Trong 30 ngày, mỗi giun sinh sản sẽ tiêu thụ trung bình là 6,45-6,55g thức ăn tinh và phân giải được 110,87-112,62g chất nền. Như vậy trung bình mỗi ngày 1 con giun sinh sản có thể phân giải được 3,7g chất thải, tương đương với khối lượng cơ thể của chúng. Tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 10 kén và 10 giun là tương đương nhau ở 2 lô lần lượt là 2,22- 2,34 g/10 kén và 0,71-0,74 g/10 giun. Đồng thời, lượng chất nền được phân giải để tạo ra 10 kén và 10 con giun cũng tương đương nhau giữa 2 lô lần lượt là 38,12-40,17 g/10 kén và 12,23-12,66 g/10 giun. Theo Satchell 1967 dẫn theo Curry & Schmidt, 2007 thì giun đất thường thích chất nền có chứa hàm lượng cao các carbohydrate dễ hòa tan hơn và giun tiêu hóa một lượng tương đối ít chất nền có chứa nhiều cellulose hoặc các thành phần phenolic đơn và không tiêu hóa được lignin. Như vậy, trong nghiên cứu này, việc bổ sung 2 loại thức ăn tinh có chứa carbohydrate dễ tiêu hóa từ bột gạo, bột ngô và các chất dinh dưỡng cần thiết khác đã cho kết quả tương đương nhau về năng suất sinh trưởng và sinh sản của giun. Do không có sự sai khác thống kê giữa 2 lô về các chỉ tiêu nghiên cứu nên có thể sử dụng bột gạo tẻ hoặc bột ngô vàng để phối trộn thức ăn bổ sung cho giun. Bảng 6. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh tới tiêu tốn thức ăn và lượng chất nền được phân giải bởi giun sinh sản Chỉ tiêu theo dõi Lô 1 n = 3 Lô 2 n = 3 p-value Mean ± SD Mean ± SD Lượng thức ăn tinh tiêu tốn trong 30 ngày cho mỗi giun sinh sản g 6,55 ± 0,26 6,45 ± 0,09 0,28 Lượng chất nền được phân giải trong 30 ngày bởi mỗi giun sinh sản g 112,62 ± 4,54 110,87 ± 1,51 0,32 Số kén đẻ ra trong 30 ngày bởi mỗi giun sinh sản 28,09 ± 1,64 29,50 ± 0,87 0,76 Số giun con nở ra trong 30 ngày bởi mỗi giun sinh sản 89,22 ± 6,03 90,97 ± 5,60 0,65 Tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 10 kén g 2,34 ± 0,16 2,22 ± 0,07 0,82 Tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 10 giun con g 0,74 ± 0,06 0,71 ± 0,05 0,23 Tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 10 giun con g VCK 0,68 ± 0,05 0,66 ± 0,05 0,23 Tiêu tốn chất nền để sản xuất ra 10 kén g 40,17 ± 2,68 38,12 ± 1,21 0,72 Tiêu tốn chất nền để sản xuất ra 10 giun con g 12,66 ± 0,97 12,23 ± 0,93 0,33 Tiêu tốn chất nền để sản xuất ra 10 giun con g VCK 9,13 ± 0,70 8,82 ± 0,67 0,33 Hệ số chuyển hóa chất nềnsinh khối giun, g VCK 101 9,861 - Ghi chú Vật chất khô của chất nền là 72,11%. Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae khi nuôi trên khay có bổ sung thức ăn tinh 330 Hệ số chuyển hóa từ chất thải phân bò và thức ăn bổ sung thành sinh khối giun đạt ở mức 101 hay 10% ở lô 1 và 9,861 hay 9,86% ở lô 2 tính theo vật chất khô. Kết quả này tương đương với công bố của Dominguez & cs. 2001 hệ số chuyển hóa đạt mức cao nhất là 101. Như vậy, hiệu quả xử lý chất thải hữu cơ và chuyển hóa thành sinh khối của giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae là rất lớn. 4. KẾT LUẬN Giun đất châu Phi Eudrilus eugeniae có khối lượng và kích thước cơ thể và kén lớn, phù hợp với phương thức nuôi ở trên khay. Bổ sung 2 loại thức ăn tinh với thành phần là bột gạo tẻ và bột ngô vàng cho kết quả tương đương nhau về năng suất sinh sản, sinh trưởng và hiệu quả phân giải chất thải hữu cơ của giun khi nuôi trên khay. Khi bổ sung 2 loại thức ăn tinh, giun sinh sản tốt tỷ lệ đẻ trong mỗi 10 ngày đạt 93,65-97% và tỷ lệ nở sau 28 ngày đạt 98,84-98,93%. Giun con sinh trưởng nhanh trong 4 tuần đầu đạt 15,71 mg/con/ngày, khối lượng cơ thể sau 4 tuần tăng 64,67 lần so với sơ sinh. Khả năng sản xuất sinh khối của giun là lớn mỗi giun sinh sản tạo ra 8,11g vật chất khô sinh khối sau 4 tuần và hệ số chuyển hóa từ chất thải thành sinh khối giun tính theo vật chất khô đạt 9,861-101. Có thể sử dụng bột gạo tẻ hoặc bột ngô vàng để phối trộn thức ăn bổ sung cho giun. Để nhân rộng phương thức nuôi này trong thực tiễn sản xuất, người chăn nuôi cần đảm bảo các điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi nhiệt độ, ẩm độ, thông khí phù hợp với sinh lý của giun, đồng thời cần hạch toán hiệu quả kinh tế để đạt năng suất và hiệu quả cao nhất. LỜI CẢM ƠN Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Hợp tác xã Làng Gióng Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội đã hỗ trợ để thực hiện nghiên cứu này. TÀI LIỆU THAM KHẢO Ali S. & Kashem M. 2018. Life Cycle of Vermicomposting Earthworms Eisenia fetida and Eudrilus eugeniae Under Laboratory Controlled Condition. Biomedical Journal of Scientific & Technical Research. 104. AOAC 1990. Official Methods of Analysis. Association of Official Analytical Chemists. Arlington. Bhattacharjee G. & Chaudhuri 2002. Cocoon production, morphology, hatching pattern and fecundity in seven tropical earthworm species - a laboratory-based investigation. Journal of Biosciences. 27 283-294. Chauhan & Singh K. 2013. Effect of tertiary combinations of animal dung with agrowastes on the growth and development of earthworm Eisenia fetida during organic waste management. International Journal Of Recycling of Organic Waste in Agriculture. 21 11. Curry & Schmidt O. 2007. The feeding ecology of earthworms - A review. Pedobiologia. 50 463-477. Dominguez J., Clive A. Edwards & John Ashby 2001. The biology and population dynamics of Eudrilus eugeniae Kinberg Oligochaeta in cattle waste solids. Pedobiologia. 45 341-353. Đặng Vũ Bình, Vũ Đình Tôn & Nguyễn Đình Linh 2008. Đánh giá khả năng sinh trưởng của giun quế Perionyx excavatus trên các nguồn thức ăn khác nhau. Tạp chí Khoa học và Phát triển. 64. Edwards 1985. Production of feed protein from animal waste by earthworms. Philosophical Transactions of the Royal Society of London. 310 299-307. Edwards 1988. Breakdown of animal, vegetable and industrial organic wastes by earthworms; In CA Edwards and EP Neuhauser eds, Earthworms in Waste and Environmental Management. SPB Academic Publishing, The Hague, the Netherlands. pp. 21-23 Edwards Dominguez J. & Neuhauser 1998. Growth and reproduction of Perionyx excavatus Perr. Megascolecidae as factors in organic waste management. Biology and Fertility of Soils. 27 155-161. Elvira C., Dornfnguez J. & Briones 1996. Growth and reproduction of Eisenia andrei and E. fetida Oligochaeta, Lumbricidae in different organic residues. Pedobiologia. 40 377 - 384. Nandeesha Srikanth Basavaraja N., Keshavanath P.,Varghese Bano K., Ray & Kale R D. 1988. Influence of earthworm meal on the growth and flesh quality of common carp. Biological Wastes. 263 189-198. Ndegwa & Thompson 2001. Integrating composting and vermicomposting in the treatment and bioconversion of biosolids. Bioresource Technology. 76 107-112. Hán Quang Hạnh, Nguyễn Thị Xuân, Vũ Đình Tôn 331 Reinecke & Hallatt L. 1989. Growth and cocoon production of Perionyx excavatus Oligochaeta. Biology Fertility of Soils. 8 303-306. Reinecke Viljoen & Saayman 1992. The suitability of Eudrilus eugeniae, Perionyx excavatus and Eisenia eetida Oligochaeta for vermicomposting in southern africa in terms of their temperature requirements. Soil Biology and Biochemistry. 2412 1295-1307. Reinecke & Viljoen 1988. Reproduction of the African earthworm, Eudrilus eugeniae Oligochaeta -cocoons. Biology and Fertility of Soils. 71 23-27. Sivasankari B., Indumathi S. & Anandharaj M. 2013. A study on life cycle of earthworm Eudrilus eugeniae. International. Journal of Chemistry and Pharmaceutical Sciences. 1 64-67. Sophie & Reinecke 1989. Life-cycle of the african nightcrawler, Eudrilus eugeniae Oligochaeta. South African. Journal of Zoology. 241 27-32. Venter & Reinecke 1988. The life-cycle of the compost worm Eisenia Fetida Oligochaeta. South African Journal of Zoology. 233 161-165. Vu Dinh Ton, Han Quang Hanh, Nguyen Dinh Linh & Nguyen Van Duy 2009. Use of redworms Perionyx excavatus to manage agricultural wastes and supply valuable feed for poultry. Livestock Research for Rural Development. 2111. Vũ Đình Tôn & Hán Quang Hạnh 2010. Xác định mức sử dụng bột giun quế Perionyx excavatus thích hợp trong khẩu phần ăn của gà broiler Hồ × Lương Phượng nuôi thả vườn. Tạp chí Khoa học và Phát triển. 86. ResearchGate has not been able to resolve any citations for this Viljoen Adriaan ReineckeIn order to determine the potential of the earthworm Eudrilus eugeniae as waste processor and protein producer, the life history of this species was studied. The development, growth and reproduction of E. eugeniae were studied. Cattle dung was used as substrate with a moisture content of 70–80% and a temperature of 25°C. Data were gathered over a period of 300 days. It was found that cocoon production started within 24 h after copulation and can be sustained for at least 300 days. Cocoons are produced at an average rate of 1,65 cocoons per worm per day. The mean incubation period of cocoons is 16,6 days with a hatching success of 84% and 2,7 hatchlings per cocoon that hatched. Sexual maturity is attained by the offspring within 40 to 50 days after hatching. E. eugeniae is compared to other vermicomposting Venter Adriaan ReineckeTo determine the full potential of the compost worm Eisenia fetida as waste processor and as source of protein, the life-cycle of this species had to be studied thoroughly. The development, growth and reproduction of Eisenia fetida were studied on cattle manure under favourable conditions of moisture, temperature and nutrition. Data were gathered over a period of 600 days. Apart from the life-cycle this study also indicated that this species can be reproductively active for more than 500 days. This is significantly longer than had previously been believed. Each cocoon produced a mean of 2,7 hatchlings after a mean incubation period of 23 days. These worms attained sexual maturity after 40 to 60 days and produced their first cocoons within four days after mating took einde die voile potensiaal van die komposwurm Eisenia fetida as afvalverwerker en as proteienbron vas te stel, moes die lewensloop van hierdie spesie deeglik bestudeer word. Die ontwikkeling, groei en voortplanting van Eisenia fetida is op beesmis bestudeer onder gunstige vog-, temperatuur- en voedingstoestande. Gegewens is oor ’n periode van 600 dae ingewin. Naas die lewensloop het hierdie ondersoek getoon dat die spesie vir meer as 500 dae voortplantingsproduktief kan wees. Dit is aansienlik langer as wat tot dusver vermoed is. Elke kokon het gemiddeld 2,7 nakomelinge voortgebring na ’n gemiddelde inkubasieperiode van 23 dae. Hierdie wurmpies was binne 40-60 dae geslagsryp en het binne vier dae na paring begin om kokonne te Anandharaj Balayogan SivasankariIndumathi. SEudrilus eugeniae is an earthworm species indigenous in Africa but it has been bred extensively in the USA, Canada, Europe and Asia for the fish bait market, where it is commonly called the African night crawler. In the present study the Eudrilus eugeniae were grown in cow dung and their life cycle were studied in different days of intervals like 15, 30, 45 and 60 days. The important parameters such as cocoon production, hatchlings, total biomass and length of the earthworms were measured. The cocoon production was started at after 30 days and hatchlings were released after 45 days. Adriaan SaaymanSince the epigeic species Eudrilus eugeniae, Perionyx excavatus and Eisenia fetida have a potential as waste decomposers or as possible sources of protein, knowledge of their temperature requirements are required in order to cultivate them in large numbers under different environmental conditions. A study was undertaken outdoors as well as indoors of earthworm populations in artificial containers in order to access the influence of high, as well as low, temperatures on the different results were compared with that obtained for control populations kept at a presumably favourable temperature of 25°C. The results showed that Eisenia fetida has a wider tolerance for temperatures than E. eudrilus eugeniae and P. excavatus which allows this species to be cultivated in areas with higher temperatures often as high as 43°C as well as areas with lower soil temperatures often below 5°C. The other two species will have limited outdoor application in vermiculture systems. The winter temperatures in the southern subregion of Africa and not the summer temperatures seem to be the limiting factor in applying Eudrilus eugeniae and P. excavatus in outdoor incubation period, development and cocoon production of the species at various temperature simulations were also investigated. Regions in southern Africa were identified, based on prevailing temperature conditions, where E. eugeniae and P. excavatus could be utilized in vermiculture systems. Adriaan ReineckeL. HallattThe biology of the oriental vermicomposting species, Perionyx excavatus, is poorly understood. Quantitative observations were made at 25C in urine free cattle manure in order to study the growth of this species. The rate of maturation and cocoon production were studied under conditions of favourable moisture and nutrition over a period of 250 days. The results obtained showed that while P. excavatus grows relatively slowly compared to other vermicomposting species, it attains sexual maturity much earlier and maintains a relatively high cocoon production rate. The study revealed that copulation is not a prerequisite for production of viable cocoons, indicating that P. excavatus may be parthenogenetic and possibly capable of alternating between modes of reproduction. Adriaan ViljoenAlthough various authors have contributed to our knowledge of the biology of Eudrilus eugeniae some basic facts about the life cycle and reproduction are still not fully documented. Quantitative observations were made of the cocoons at 25 C in different substrates. The incubation period for 166 cocoons was days, based on cocoons produced by worms between the ages of 70 and 100 days. These cocoons produced a mean hatchlings per cocoon after incubation in cattle manure, moist filter paper and distilled water. A smaller batch of cocoons incubated in cattle manure produced a mean of hatchlings per cocoon. The hatching success of the cocoons was 84% in cattle manure, 50% in distilled water, and 48% on moist filter paper. The reproductive capabilities of E. eugeniae and Eisenia fetida were định mức sử dụng bột giun quế Perionyx excavatus thích hợp trong khẩu phần ăn của gà broiler Hồ × Lương Phượng nuôi thả vườnVũ Đình Tôn & Hán Quang Hạnh 2010. Xác định mức sử dụng bột giun quế Perionyx excavatus thích hợp trong khẩu phần ăn của gà broiler Hồ × Lương Phượng nuôi thả vườn. Tạp chí Khoa học và Phát triển. 86. lý thuyết trắc nghiệm hỏi đáp bài tập sgk Câu hỏi Thúy 13 tháng 10 2018 lúc 1616 tạo tập tính. kiện sống. trò của giun đất đối với việc cải tạo đất. help me trình bày vai trò của giun đất trong việc cải tạo đất nông nghiệp Xem chi tiết Câu 1 Vì sao nói giun đất có vai trò trông việc cải tạo đất ? Câu 2 Vì sao nói giun đất là lưỡi cày sống? Câu 3 Phân tích vai trò của giun đất đối với trồng trọt? Xem chi tiết Thúy 8 tháng 10 2018 lúc 1958 -Hệ thống kiến thức về giun đất thành sơ đồ hình thái, cấu tạo tập tính, thức ăn, điều kiện sống, vai trò của giun đất đối với việc cải tạo đất -Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của giun đất yếu tố nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, dinh dưỡng, tính chất đất như pH của đất, kết cấu, các sinh vật sống trong đất khác ... -Mỗi nhóm tiến hành nuôi giun đất Thiết kế bình nuôi về chất liệu, thành phần, kích thước... chủng loại giun, nơi thu mẫu,...vào giấy A4 -Học sinh theo dõi chăm sóc, n...Đọc tiếp Xem chi tiết Vì sao nói giun đất có vai trò trông việc cải tạo đất ? Vì sao nói giun đất là lưỡi cày sống? Phân tích vai trò của giun đất đối với trồng trọt Xem chi tiết Qua hoạt động sống của giun đất trình bày vai trò của giun đất trong việc cải tạo đất nông nghiệp. Nêu biện pháp bảo vệ giun đất có ích Xem chi tiết Trình bày đặc điểm cấu tạo của giun đất thích nghi với đời sống chui rúc trong đất ? Vai trò thực tiễn của giun đốt trong đời sống ? Tại sao nói giun đất là bạn của nhà nông ? Xem chi tiết đặc diểm phân loại, tập tính, cấu tạo, điều kiện sống, phân bố của giun đất GIÚP NHANH NHA Xem chi tiết Câu 1 Cấu tạo ngoài giun đất thích nghi với đời sống trong đất như thế nào?Câu 2 Cơ thể giun đất có màu phớt hồng, tại sao?Câu 3 Lợi ích của giun đất đối với đất trồng trọt như thế nào? Xem chi tiết trình bày đặc điểm cấu tạo trong của giun đấtvai trò của giun Xem chi tiết Mục lục nội dung 1. Giải bài 1 trang 55 SGK Sinh học 7 Cấu tạo ngoài giun đất thích nghi với đời sống trong đất như thế nào? Phương pháp giải Xem lại kiến thức về cấu tạo ngoài của Giun đất Xem lại kiến thức về tập tính và môi trường sống của Giun đất Hướng dẫn giải - Cấu tạo ngoài của giun đất thích nghi với đời sống chui rúc trong đất Cơ thể dài, gồm nhiều đốt, cơ phát triển để có thể chun giãn, phần đầu có miệng, phần đuôi có hậu môn. Ở phần đầu có vòng tơ xung quanh mỗi đốt, dùng để tì vào đất khi chui bò giun đất không có chân. Khi tìm kiếm thức ăn, nếu gặp đất khô và cứng, giun tiết ra chất nhày làm mềm đất rồi nuốt đất vào miệng. Lớp da mỏng, da luôn ẩm để trao đổi khí qua da. Mắt tiêu giảm, thích nghi với đời sống chui rúc trong đất. 2. Giải bài 2 trang 55 SGK Sinh học 7 Cơ thể giun đất có màu phớt hồng, tại sao? Phương pháp giải Xem lại kiến thức về cấu tạo ngoài của Giun đất Dưới da của giun có nhiều mạch máu Hướng dẫn giải Vì ở bên dưới da có nhiều mao mạch vận chuyển máu tới da để thực hiện quá trình trao đổi khí qua da. Mà máu của giun đất có huyết sắc tố hay máu màu đỏ nên làm cho da giun có màu phớt hồng. 3. Giải bài 3 trang 55 SGK Sinh học 7 Lợi ích của giun đất đối với đất trồng trọt như thế nào? Phương pháp giải Xem lại kiến thức về cấu tạo ngoài của Giun đất Giun đất ăn thực vật và mùn đất Hướng dẫn giải - Vai trò của giun đất đối với trồng trọt là Khi đào hang và chuyển vận và tìm kiếm thức ăn, giun đất đã làm cho đất tơi xốp hơn, không khí hòa tan trong đất nhiều hơn, giúp rễ cây nhận được nhiều ôxi hơn để hô hấp. Phân giun đất có tác dụng làm tăng tính chịu nước, tăng lượng mùn, các muối can-xi và kali dễ tiêu cho đất. Chúng góp phần chuyển từ môi trường chất chua hoặc kiềm về môi trường trung tính thích hợp cho cây. Giun đất giúp đẩy mạnh hoạt động của vi sinh vật có ích cho đất. Tham khảo thêm doc Giải bài tập SGK Sinh học 7 Bài 11 Sán lá gan doc Giải bài tập SGK Sinh học 7 Bài 12 Một số giun dẹp khác và đặc điểm chung của ngành Giun dẹp doc Giải bài tập SGK Sinh học 7 Bài 13 Giun đũa doc Giải bài tập SGK Sinh học 7 Bài 14 Một số giun tròn khác và đặc điểm chung của ngành Giun tròn doc Giải bài tập SGK Sinh học 7 Bài 17 Một số giun đốt khác và đặc điểm chung của ngành Giun đốt Ngày19/08/2020 Chia sẻ bởiThi

tập tính của giun đất